Con đường học tiếng Trung của mình

Chuyện tình của mình với tiếng Trung có thể tóm gọn lại bằng một câu là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên kiến diện bất tương phùng”. Mình học tiếng Trung vào thời điểm không hề thích hợp để làm việc đó, và lúc nên học và cần học thì lại không học. Trước hết cái sự “vô duyên” là ở thời điểm bắt đầu học tiếng Trung, mình bắt đầu học tiếng Trung tương đối muộn.

Lý do học tiếng Trung

Sở dĩ mình nói mình bắt đầu học tiếng Trung muộn, là do trước giờ mình chưa từng nghĩ mình sẽ học đến ngoại ngữ thứ 4, trước khi vào đại học thì chỉ nghĩ làm thế nào nói được tiếng Anh với người nước ngoài, nhìn thấy Tây mà không sợ chạy mất thì đã là một thành tựu rồi. Nếu biết trước có ngày đâm đầu vào sự nghiệp không lối thoát này, nhất định sẽ học tiếng Trung đầu tiên, đây cũng là câu mình nói với tất cả bạn bè mình khi đang băn khoăn xem nên học ngoại ngữ gì. Tiếng Trung rất gần với tiếng Việt, ngữ pháp cách tư duy từ vựng đều rất gần gũi nên không gặp khó khăn trong việc tư duy sắp xếp thứ tự từ. Hơn nữa, tài liệu học và trung tâm tiếng Trung vô cùng sẵn, chi phí học và tiếng Trung tương đối rẻ (cứ so với tiếng Anh mà xem (!)). Một điểm vô cùng lợi trong việc học tiếng Trung là khi đi du lịch nước ngoài, đôi khi dùng tiếng Trung còn tiện hơn tiếng Anh.

Điều hay ho nhất (và mình cảm thấy hối hận nhất khi không học tiếng Trung đầu tiên, là tài liệu bằng tiếng Trung vô cùng nhiều, muốn gì có đó và luôn luôn dễ dàng để tải về một cách miễn phí. Bằng chứng vô cùng đau lòng là hồi ôn thi IELTS phải học bằng sách tiếng Trung, vì mấy tài liệu quen quen không giúp ích nhiều cho mình lắm còn tài liệu hữu ích thì bán quá mắc, mấy cái phần giải thích đọc không hiểu, lại vác đi hỏi một bạn Trung và bạn đó giải thích bằng tiếng Trung thì mình không hiểu… (siêu thảm hoạ). Giá mà hồi đó biết tiếng Trung tốt hơn, chắc sẽ học và hiểu mấy cái đề IELTS đỡ vất, tìm tài liệu học cũng đỡ cực hơn,… Cuối cùng cách giải quyết là bạn đó giải thích bằng tiếng Nhật (ôi trời, đắng thay T.T…). Thỉnh thoảng vẫn nhớ lại chuyện này để cảnh tỉnh bản thân một cách đầy cay đắng, là đã thiếu sót như thế nào khi không học tiếng Trung từ sớm, khi còn đang rất rảnh ở cấp 3 và đại học.

Lần đầu tiên ngồi xuống bàn giở sách đặt bút viết những câu tiếng Trung đầu tiên từ quyển giáo trình Hán ngữ một cách tử tế (trước đó có học linh tinh vài lần, chỉ học từ và chưa quá được bài 5) là vào những ngày đầu năm mới của năm 2014, khi mình đang chuẩn bị thi tiếng Nhật vào cuối năm đó. Mình nhận được kết quả thi tiếng Nhật N2 vào đúng ngày mùng 1 tết (đi ra đi vô mãi không dám xem kết quả vì sợ nhỡ vạn nhất tạch thì xui cả năm, năm 2014 mình định thi rất nhiều), và may mắn là đỗ. Con đường từ N2 lên N1 chắc chắn không hề đơn giản, và mình cảm thấy bản thân không đủ tự tin cũng như thời gian dư dả để có thể tiếp tục chiến đấu với nó, nên năm này đã đặt mục tiêu là tự thả lỏng bản thân một chút với một sự bắt đầu mới (là tiếng Trung).

Ngoài ra thì với lượng kanji ít ỏi mà mình học được từ N2, mình không đủ tự tin để có thể nắm bắt được kanji sử dụng cho N1 (không phải chỉ đơn giản con số khoảng 2000 kanji, mà còn biết bao từ tạo thêm, và kinh khủng nhất là các thành ngữ 4 chữ). Vậy nên, mình có chút mưu đồ, “tâm cơ” là đi đường vòng một chút, học thật nhiều chữ Hán và biết chữ Hán, khi đó quay lại nhìn kanji sẽ không thấy sợ nữa và hiểu sâu hơn. Khi học kanji mà nhớ được âm Hán Việt thì có thể đoán được cách đọc từ đó, cũng tương tự như vậy khi biết pinyin của từ tiếng Trung, có thể suy ra gần đúng cách đọc của phần lớn từ tiếng Nhật, và nghĩa thì hầu như là không khác (những từ mang nghĩa khác nhau cũng rất hay ho, qua đó mình cũng thấy được sự khác nhau giữa văn hoá và cách tư duy của Nhật và Trung với cùng một khái niệm/vấn đề, khi nào rảnh nhất định phải ngồi tổng hợp lại mấy cái này).

Chuyện đi thi

Nhân đây cũng xin nhắc lại, mình là một người rất ham hố đi thi (lý do tại sao ở đây), nên khi học chưa được mấy chữ, “chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng” ham hố vác tù và đi thi. Kỳ thi HSK được tổ chức 2 lần ở Việt Nam là tháng 5 và tháng 11. Lúc đó thi tháng 5 thì mới học được chưa đầy 3 tháng, có thi cũng chỉ được cấp 3 (là cùng) và hơi tốn tiền nên mình định tháng 11 thi. Đây cũng là điều mình tương đối hối hận và cảm thấy hơi vô duyên với tiếng Trung ở đây, chính vì trì hoãn việc thi cử nên mình cũng trì hoãn luôn cả việc học khi nghĩ còn cả tá thời gian tới lúc thi (lí do vô cùng quen thuộc). Sau đó là bỏ bẵng luôn, sách vở phủi ra đầy bụi.

Tới tháng 11/2014 mới chợt giật mình là hình như lâu lắm không có học tiếng Trung, vậy nên cũng không có kiến thức đâu mà đi thi cả, nên lại trì hoãn tiếp đến tháng 5/2015, ngoài ra thì lúc này đang ngủ quên trên chiến thắng của tiếng Nhật và 1 thứ khác, nên rất dương dương tự mãn không coi học hành quan trọng nữa (một chuyện rất không nên trong quá trình học ngoại ngữ là giữa đường bỏ ngang). Tới tháng 11/2015 thì chắc chắn phải thi rồi, đây là cơ hội cuối cùng để mình gỡ gạc lại với tiếng Trung trong khi còn ở Việt Nam. Mục tiêu là HSK5 nhưng tới ngày đăng kí lại tiếc tiền sợ thi ngu (và nhát) nên đăng kí HSK4, rồi tới lúc nhận điểm thì tiếc hùi hụi vì điểm cao, biết đâu thi HSK5 cũng đỗ thì sao… Nhưng cái biết đâu đó không bao giờ xác thực được, nên giờ mình vẫn đang ngồi đây và gạo lại bài để quyết tâm chinh phục HSK ;).

Đi thi HSK4 thì cũng nhiều chuyện để kể lắm. Cho tới lúc đi thi HSK4 thì hành trang trong đầu của mình có: 1200 từ HSK4, ngữ pháp 4 quyển Hán ngữ, làm qua khoảng 10 đề đọc nghe, chưa từng có ai kiểm tra viết cho, và thật ra cũng chưa viết cái gì bằng tiếng Trung bao giờ (!) (đọc thêm về việc mình ôn thi HSK4). Hôm đi thi là lần đầu tiên viết được trọn vẹn 1 câu bằng tiếng Trung (trời ơi bao xúc động, câu đó là “thuốc đánh răng hết rồi, mai phải đi mua thôi” hahaa =)) ).

Điều kiện thi ở Hà Nội phải gọi là vô cùng “tuyệt vời” tới mức bây giờ bất kì ai hỏi mình về kì thi đó mình cũng có thể bật ra một ngàn lẻ một lí do củ chuối làm ảnh hưởng đến kết quả thi; tỉ dụ như đúng vào buổi sáng hôm thi thì khoa Pháp (địa điểm tổ chức thi) quyết định bơm nước, và thật may mắn là mình ngồi cạnh đúng cái ống bơm cứ xì xì cả buổi còn to hơn cả tiếng đài; tỉ dụ như làm đề luyện ở nhà tưởng photo nên mới đen trắng, hoá ra lúc đi thi đề cũng chỉ là đen trắng mà thôi (nên phải nhớ đeo kính mà soi mấy câu nhìn tranh…); tỉ dụ như sẽ có mấy cô lao công vừa quét dọn vừa nói chuyện ở một cự li siêu gần ngay lúc bạn đang tập trung làm phần đọc…, hay như các đồng chí xung quanh bắt đầu ngọ ngoạy gian lận… Mình vẫn vô cùng cay cú phần thi nghe hôm đó, vì mình vô cùng tự tin, và nghe cứu mình qua khỏi các kì thi tiếng Nhật, nên cũng tự tin là nó sẽ cứu qua tiếng Tàu, cuối cùng 2 phần kia điểm rõ cao, còn phần nghe thì bị ngu si… 😥

Sau kì thi thì lại lặp lại quá trình trồi sụt trong niềm đam mê tiếng Trung của mình, thi xong rồi thì học làm gì nữa? (ôi trời). Ngoài ra cộng thêm việc mình phải chuẩn bị đi Nhật, rồi sang Nhật thì phải thích nghi với cuộc sống bên này, và cả một số xáo trộn không nhỏ trong các mối quan hệ, (lí do) tâm trạng và thể trạng không ổn định cho phép mình làm nhiều việc một lúc nữa, nên với tất cả nguyên cớ này, việc học tiếng Trung lại bị tạm hoãn (hix).

Hiện tại và tương lai (gần)

(Hồi năm 2016)

Giờ thì mình xem chương trình giải trí tiếng Trung hoặc phim thì nói chung là hiểu, nghe tin tức thì chịu, đôi chỗ vẫn phải tra nhưng nghe và nhìn phụ đề thì hiểu hơn hồi mình mới N2 mà đi xem phim Nhật nhiều, nên hi vọng là trình độ đọc nghe đang ở khoảng ngưỡng trên dưới HSK5. Vấn đề là phát âm và viết vô cùng tệ (do có học đâu) cho dù vẫn có thể nói chuyện bập bõm với người Trung, nên phải tìm cách cải thiện, ngoài ra HSK5 cũng không phải chuyện đơn giản, nhất định cần chiến lược để ôn cẩn thận. Hi vọng trong tương lai gần (năm nay hoặc đầu 2017) có thể kết thúc mối tình nghìn năm với em tiếng Trung bằng HSK6.

(Cập nhật tháng 10.2018)

Kết quả là đến tận bây giờ vẫn chưa thi HSK6 (lầy quá thể T>T). Mình sẽ quyết tâm trong nửa đầu 2019 thi được HSK6. Nhật ký sẽ cập nhật trong thời gian gần ^^

Nhật ký học tiếng Nhật 0-N1 trong 2 năm

Nhật ký học tiếng Nhật từ 0-N1 

Biểu đồ trên là tóm tắt quá trình của mình với JLPT, kể từ ngày 25/5/2012 là ngày đầu tiên bước vào lớp tiếng Nhật ở Núi Trúc, bắt đầu tập viết từng chữ Hiragana, trải qua 4 kỳ thi N và cuối cùng hết duyên ở buổi coi thi kỳ tháng 12 năm 2016. 

Tất cả quá trình học của mình từ chưa biết gì tới N1 có thể chia thành 3 giai đoạn chính 0-N3, N3-N2 và N2-N1. 

Giai đoạn từ 0-N3

Cũng có rất nhiều cái duyên dẫn mình tới học tiếng Nhật, nhưng lúc đó không ngờ là sẽ gắn với tiếng này mãi để rồi đang ở Nhật như thế này. Mình không học trước khi đến lớp, nên hôm đầu vào lớp rất hoảng là các bạn trong lớp đều đã biết hết bảng kana (link post bảng chữ tiếng Nhật) mà mình chưa biết gì. Điều may mắn là Núi Trúc dạy tương đối chậm nên mình cũng không bị với mà vẫn theo kịp được, có điều học cái gì cũng phải kiên trì thì mới thành công được (bằng chứng là hồi đó học đâu như có 4-5 lớp 6A, lên tới B còn 1-2 lớp và tới cuối kỳ của lớp C thì còn nửa lớp…). 

Khoảng thời gian này thì giáo trình gần nhưduy nhất mà mình sử dụng là Minna no Nihongo, và tất cả kiến thức cũng chỉ từ đây. Mình có tập viết kanji thêm ở 2 quyển Basic kanji, nhưng các kanji trong hai quyển này đều được đề cập trong giáo trình Minna. Nếu bạn đã đọc các bài viết khác trong trang này của mình thì có thể đã nghe mình nhắc chuyện này rất nhiều lần rồi, nhưng mình xin phép được nhắc lại một lần nữa: Minna no Nihongo hay hơn mọi người tưởng rất nhiều. Mình ghi chép lại chi tiết hơn về cách mình học sử dụng giáo trình này ở đây, cũng như đã tổng hợp ngữ pháp ở đây.

Trong khoảng thời gian này mình đang học đại học năm hai và bắt đầu đi làm thêm nên thời gian học không có nhiều, ngoài thời gian lên lớp thì mỗi tuần mình dành khoảng 2 buổi, mỗi buổi 3-4 tiếng nữa để học. Tổng cộng thời gian học là ở trên lớp 10 tiếng, ở nhà (cộng cả thời gian lăn lộn lười biếng) thì khoảng 10 tiếng nữa là 20 tiếng/tuần trong vòng 1 năm. 

Giai đoạn từ N3-N2

Đây là giai đoạn mình học chăm chỉ nhất, cũng là giai đoạn duy nhất mình cảm nhận được thái độ nghiêm túc trong việc ôn thi cũng như cảm thấy bản thân có bước tiến rõ rệt trong việc học tiếng Nhật. Trước đây kỳ thi tiếng Nhật được tính theo kyuu, từ thấp nhất là 4 kyuu (tương đương N5), 3 kyuu (N4), 2 kyuu (N2) và 1 kyuu (N1), cấp thi N3 ở giữa 3 kyuu và 2 kyuu xưa. Tuy so sánh thế này cũng hơi khập khiễng vì thi kyuu cũ và thi N mới có cấu trúc đề khác nhau, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy khoảng cách xa giữa 3 kyuu và 2 kyuu của ngày xưa. Kỳ thi N mới thêm N3 nhưng khoảng cách từ N3 tới N2 vẫn rất xa. Mình đỗ N3 điểm tương đối cao nên hồi đó cứ tiếc mãi sao không thi N2, vì hồi đó mọi người có câu nói là thi mà điểm gần tối đa một cấp là thi lên cấp trên chắc chắn đỗ. Tới lúc coi đề N2 mới thấy may mà mình đăng ký N3… vì đề N2 khó hơn N3 RẤT NHIỀU!!

Ngay lập tức mình phải đặt mục tiêu chăm chỉ hơn nếu muốn đỗ N2. N3 có thể nói là mức dành cho dân chơi nghiệp dư, thì con đường tới N2 là khởi đầu bán chuyên rồi. Mình vạch ra rất nhiều kế hoạch rồi lại bỏ do bận và liên tục trì hoãn (thời gian này mình bắt đầu đi dạy tiếng Nhật và dạy tiếng Việt cho người Nhật). Lúc này mình quyết định đăng ký lớp học N2 ở VJCC và tới giờ vẫn nghĩ đó là quyết định hoàn toàn đúng đắn. Lớp đọc và lớp nghe sử dụng nhiều giáo trình riêng, phương pháp đọc nhanh và nắm bắt cách tìm thông tin với từng dạng câu hỏi. Lớp ngữ pháp sử dụng giáo trình Shin-Kanzen, giải thích từng mẫu ngữ pháp một. Lớp từ vựng kanji là lớp không có hiệu quả với mình nhất (do lười), do thầy người Nhật dạy giải thích cũng kỹ nhưng mà (nhắc lại lần nữa, do lười) nên không thấm lắm. Quan trọng nhất là các lớp này đều rất nhiều bài tập về nhà, mà buổi sau chữa bài buổi trước nên nếu không làm đủ thì tới lớp cũng không có ý nghĩa, điều này giúp mình có động lực học hàng tuần và duy trì đều đặn hơn. 

Tuy nhiên tới đây thì kiến thức của mình bắt đầu cảm thấy hổng hơn so với mọi người, ngữ pháp thì có thể miễn cưỡng hiểu nhưng từ vựng và kanji thì quả thực gần như bằng 0 (ngoài vốn từ vựng minna thì mình không biết gì và chữ Hán thì Núi Trúc không chú trọng dạy). Mình bắt đầu bổ sung thiếu sót bằng các biện pháp hơi cực đoan (có thể tạm gọi là học tiếng Nhật theo kiểu điên), tức là thiếu đâu bổ đấy, và bằng thời gian ngắn nhất có thể. Trước hết là mình học hết toàn bộ Kanji (chỉ cố gắng nhớ mặt chữ, cách viết, âm Hán Việt và ý nghĩa cơ bản) trong 1 tháng (cách mình đã học ở đây). Sau đó mình bắt đầu học theo core2k/6k/10k, tham khảo thêm ở đây và cách mình đã học ở đây.

Giai đoạn từ N2-N1

Thời gian này mình gần như không học thêm kiến thức mới gì. Lý do một phần là điểm N2 cũng tương đối cao và thời gian ôn thi N2 đã học quá trâu, nên muốn xả hơi, phần nữa là bắt đầu vào năm cuối đại học hoàn thiện các môn, khoá luận, tìm việc, suy nghĩ sự đời, hết hứng thú với tiếng Nhật và chuyển qua các thứ tiếng khác, chia tay người yêu, nói chung là vân vân và mây mây các lý do… Tới bây giờ mình vẫn không hiểu thế lực thần bí nào đã giúp mình thi đỗ N1 hồi đó, nhưng suy tính lại có thể gom trong mấy lý do có khả năng nhất là:

– Mình đi dạy tiếng Việt cho người Nhật, tham gia các hoạt động tiếp xúc với người Nhật rất nhiều dẫn tới phải ép bản thân nói tiếng Nhật nhiều hơn. Dạy tiếng Việt cho người Nhật đều là dạy 1-1, và buổi đầu tiên đi dạy run tới mức tối hôm trước đó mình đứng trước gương cả vài tiếng đồng hồ để tập mấy câu mà mình nghĩ là sẽ dùng tới hôm sau. Thời gian đó đi dạy cũng rất xa (30-45 phút đi xe máy+gửi xe các kiểu) nên thường lúc đi và về mình sẽ nghĩ lại về các câu, xem đã nói đúng hay sai (việc này đúng là không nên, mình cũng ngã xe mấy lần vì tội vừa đi vừa nghĩ…). Mình thấy việc quan trọng nhất để thấy tiến bộ nhanh trong việc học ngoại ngữ là phải xem xét lại những gì mình đã học, cố gắng vận dụng nhiều nhất có thể và học từ những gì mình sai. Có rất nhiều tình huống mình thấy với những gì mình biết chắc chắn có thể ứng phó được, nhưng thực tế đến lúc gặp sự thì không thể nói được câu nào. Vậy nên thay vì gặp sự rồi lúng túng, mình bắt đầu tập cách tưởng tượng tình huống và nghĩ ra những câu có thể nói đối với cả hai bên, cách này luyện phản xạ tiếng Nhật rất tốt, cũng giúp cho mình cả trong phần nghe hiểu tốt hơn nữa.

– Mình đi làm thêm cho một công ty, ngồi văn phòng làm lặt vặt và thường phải dịch tài liệu Nhật-Việt, Việt-Nhật hoặc đọc tìm hiểu thông tin tiếng Nhật rất nhiều. Hai chị sếp đều rất giỏi tiếng Nhật nên hay chữa phần dịch cho mình, hồi đầu dịch ngu dịch lởm hay bị mắng nữa, nhưng mắng đúng nên không thấy tủi thân mà chỉ thấy xấu hổ phải cố hơn thôi. Mình không được học về dịch thuật, cũng không học tiếng Nhật chính quy nên mỗi lần gặp vấn đề thường không có người để hỏi, bù lại kỹ năng tra cứu và tổng hợp thông tin lên cao. Trong khoảng thời gian này phải đọc tài liệu tiếng Nhật rất nhiều, nếu có khái niệm không rõ phải tìm đọc giải thích ở các trang tiếng Nhật nên khả năng đọc bắt từ và nắm ý được nâng cao. 

– Mình xem rất nhiều phim Nhật/show Nhật/truyện Nhật. Thời gian tiếp xúc với tiếng Nhật một ngày tương đối nhiều, nên có lúc mình tư duy bằng tiếng Nhật luôn, nên cảm thấy kiến thức tiếng Nhật tiếp thu vào cũng tập trung và hệ thống hơn. 

Đương nhiên cách học ôn lên N1 thì mỗi người sẽ có một phương pháp khác nhau, vì tới cấp độ này thì mọi người đều đã có kiến thức nhất định về tiếng Nhật, cũng như có mục tiêu khác nhau của mình về việc sử dụng tiếng Nhật. Với “cách” của mình là thiên về tăng tiếp xúc với tiếng Nhật để ngấm một cách tự nhiên. Cách này thì về cơ bản là không tốn thời gian thực sự học, có thể tận hưởng việc học ngôn ngữ thông qua các hoạt động giải trí mà mình thích, vào thời điểm phù hợp với sinh hoạt của bản thân. Tuy nhiên, nhược điểm là ngữ pháp của mình đoạn N1 không vững (10 câu ngữ pháp khi đi thi sai cả 10…), ưu điểm là điểm đọc và nghe rất cao (mình thi nghe đa phần đều gần tối đa).  

Hy vọng những chia sẻ của mình có thể giúp ích phần nào trong quãng đường học tiếng Nhật của mọi người. Khi mình mới bắt đầu học tiếng Nhật cũng không nghĩ là sẽ tiến xa và gắn bó với nó đến vậy, nhưng tin mình đi, một khi bạn đã bắt đầu học tiếng Nhật và bỏ công tìm hiểu về nó, sẽ có ngày “nghiện” ngôn ngữ này giống mình thôi ;). Chúc may mắn ^__^ ~

Bảng chữ cái tiếng Nhật

Bốn bảng chữ cái!?

Nhân chuyện này lại nhớ lại phản ứng của rất nhiều người khi biết mình học tiếng Nhật là nói: “Uầy, nghe nói tiếng Nhật khó lắm, có tận 4 bảng chữ cái lận”. Cả hai vế này đều đúng, đúng là tiếng Nhật rất khó (đương nhiên độ khó của một ngôn ngữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, xem thêm ở đây), đúng là có bốn “kiểu chữ” có thể được sử dụng khi viết tiếng Nhật, nhưng mà cái khó của tiếng Nhật không nằm ở việc nó có 4 “bảng chữ”, và cũng không phải là cả 4 “bảng chữ” đều được sử dụng với vai trò như nhau.

“Bốn bảng chữ cái” mà mọi người nhắc đến bao gồm romaji, hiragana, katakana và kanji. Tuy nhiên, romaji không phải là bảng chữ cái, mà chỉ đơn giản là các kí tự la tinh được sử dụng để ghi phiên âm tiếng Nhật, và nhiều khi chính người Nhật cũng không đọc được các ký tự này. Mình đã từng chứng kiến có bác Nhật chỉ viết được chữ A hoa chứ không viết được chữ a thường, thấy các bài báo có chữ ABC mà cũng phải phiên âm katakana lên phía trên,… Đương nhiên, đối với các bạn trẻ tuổi và những người theo học trường lớp cũng như thấy các văn bản tiếng Anh thường xuyên thì không gặp vấn đề với các ký tự la tinh, nhưng họ vẫn không thể hoàn toàn nắm bắt được ý nghĩa một văn bản viết bằng romaji (đọc thêm về romajiđây).

Thực tế khi người Nhật viết tiếng Nhật chỉ sử dụng các kí tự hiragana, katakana và kanji. Kanji không được gọi là bảng chữ cái, mà đây chỉ là các chữ Hán được người Nhật sử dụng để giản lược văn viết (thay vì biểu âm như trước thì dùng để thể hiện nghĩa, đọc thêm về kanjiđây). Một sai lầm thứ hai của người học là kêu kanji khó, và mong muốn tiếng Nhật không còn kanji… (Mình chỉ nghĩ tới đã thấy thảm hoạ rồi, lúc đó có đọc oang oang cả đoạn dài lên cũng không thể hình dung nổi nghĩa, và đúng là học từ nào chỉ biết từ đó thôi. Muốn đọc văn bản nắm nghĩa nhanh nhất định phải dựa vào kanji rồi.)

Sau khi loại trừ một vài “hiểu lầm”, có thể thấy “bảng chữ cái tiếng Nhật” thực sự chỉ bao gồm hiragana và katakana (gọi chung là kana) mà thôi.

Lịch sử bảng kana 仮名

Bảng chữ cái kana là một hệ thống văn tự ký hiệu âm tiết rất quan trọng, mỗi ký tự thể hiện một âm tiết trong tiếng Nhật. Kukai 空海 (cũng được biết đến với hiệu Kobodaishi – 弘法大師), một thiền sư dưới thời Heian, được cho là người có công khởi đầu cho sự phát triển của bộ chữ này. Nguồn gốc sơ khai của bảng kana mà chúng ta sử dụng ngày nay bắt nguồn từ “Vạn diệp tập” 万葉集, là công trình tuyển tập thơ đồ sộ (20 chương) và cổ đại của Nhật Bản. Vào khoảng nửa sau của thế kỷ 6, văn hoá Trung Hoa thâm nhập vào Nhật Bản, các học giả bắt đầu tiếp xúc với chữ Hán. Thuở ban đầu chữ Hán được dạy và học để hiểu các văn bản Trung Quốc, dần dần người Nhật sử dụng chính các chữ Hán này để ghi lại tiếng Nhật trên văn bản. Các chữ Hán được sử dụng trong tập thơ “Vạn diệp tập” (tham khảo hình ảnh ở dưới) thể hiện rất rõ điều này, chữ Hán ở đây được dùng để ghi âm tiết thay vì thể hiện ý nghĩa. Cách sử dụng chữ Hán này do tập quán và thói quen nhưng không có quy định cụ thể, một chữ Hán có thể thể hiện một hoặc nhiều âm tiết hoặc các chữ Hán khác nhau có thể được sử dụng để thể hiện cùng một âm tiết. 

Hiragana 平仮名 gồm 48 ký tự, được sử dụng chính cho phần cuối của từ (được gọi là okurigana – 送り仮名), sử dụng trong các tài liệu cho trẻ em hoặc viết các từ có kanji khó hoặc hiếm thấy. Hiragana còn được sử dụng để ghi phiên âm cho các chữ kanji khó hoặc các từ có cách đọc đặc biệt. Phần phiên âm này được gọi là furigana 振り仮名 (là một phần của ruby ルビ), được viết ở phía trên đối với văn bản thông thường và viết ở bên phải đối với văn bản viết theo chiều dọc). Hiragana được cho là xây dựng từ cách viết Thảo thư của các âm Hán trong bộ manyogana đã nhắc tới ở trên. Đặc điểm của chữ Hiragana là có các đường cong và không gian bao rộng. Thứ tự 5 hàng aあ, iい, uう, eえ, oお được cho là bắt nguồn từ chữ Tất-đàm (Bonji 梵字, một dạng chữ cổ của tiếng Phạn được sử dụng để ghi chép kinh phật). 

Bảng đối chiếu Hiragana và chữ Hán gốc (màu đen: hiragana, màu đỏ: chữ Hán gốc, màu da cam: chữ Hán viết theo lối Thảo thư). Nguồn: http://frytiger.com/archives/790.html

Hiragana còn được gọi là onna de 女手 do ở thời Heian, phụ nữ chỉ được dạy Hiragana và viết ghi chép tất cả đều bằng hệ chữ viết này. Một tác phẩm nổi tiếng được viết hoàn toàn bằng hiragana là Nhật ký Tosa 土佐日記, là hành trình 55 ngày từ Kyoto về Tosa của Tsurayuki 貫之, cũng là tác phẩm văn học đầu tiên dưới dạng nhật ký của Nhật. Ở thời kỳ đầu, một âm tiết có thể được ghi lại bằng nhiều ký tự hiragana khác nhau, nhưng sau này để tránh nhầm lẫn và tiện ghi chép, chính phủ Nhật Bản đã chuẩn hoá hệ chữ này vào năm 1946, thành một âm tiết tương ứng với một ký tự như những gì chúng ta học và sử dụng ngày nay.

Hình ảnh cuốn Nhật ký Tosa. Nguồn: http://kseibo.exblog.jp/14707009/

Katakana 片仮名 cũng gồm 48 ký tự, được sử dụng chủ yếu bởi đàn ông. Đặc điểm của chữ Katakana là gẫy gọn, các nét đều có góc cạnh. Chữ Katakana được xây dựng từ một phần của chữ Hán trong bộ manyogana (tham khảo hình ảnh đối chiếu ở dưới). Chữ Katakana phần lớn được sử dụng để nhấn mạnh, ghi tên riêng nước ngoài, các từ mượn từ các thứ tiếng khác ngoài Trung Quốc, ví dụ như baito バイト (làm thêm) mượn từ tiếng Đức arbeit (công việc, lao động). Ngoài ra, có rất nhiều từ thực ra có thể viết bằng kanji nhưng người Nhật vẫn sử dụng katakana để ghi chép, do cách sử dụng kanji dùng các chữ Hán khó hoặc không thường dùng, gây lẫn lộn và khó khăn trong đọc và viết, ví dụ như tên măng tây asparagus アスパラガス có thể được viết là 竜髭菜, hay tên các quốc gia ví dụ như Pháp フランス có thể được viết là 仏蘭西.

Bảng đối chiếu Katakana và chữ Hán gốc (màu đen: katakana, màu xanh: chữ Hán gốc, phần khoanh đỏ là phần được lấy ra để tạo chữ). Nguồn: http://frytiger.com/archives/797.html

Tuy nhiên, 48 âm tiết trong bảng Katakana không đủ để ghi lại các âm của tiếng nước ngoài. Một ví dụ rất đơn giản có thể thấy là Việt Nam khi phiên âm sang tiếng Nhật sẽ biến thành betonamu ベトナム do người Nhật không có âm v, và bản thân người Nhật cũng gặp khó khăn khi phát âm âm này. Tương tự với chữ v của tiếng Việt thì âm xát môi kêu (voiced labiodental fricative 有声唇歯摩擦音) còn có v của tiếng Anh, w của tiếng Đức và f của tiếng Tây Ban Nha khi du nhập vào nhật đều biến thành âm b. Gần đây người Nhật bắt đầu sử dụng ヴ để ký hiệu cho âm này thay vì chuyển sang âm b như trước đây, sử dụng đầu tiên bởi Fukuzawa Yuikichi trong Tuyển tập Fukuzawa 福澤全集緒言. Tuy nhiên các chữ vẫn thông dụng từ trước, ví dụ như betonamu ベトナム (Việt Nam) hay intabyuu インタビュー (interview – phỏng vấn), thì không thay đổi. Nhắc tới ví dụ này để có thể thấy tuy vấp phải nhiều phản đối (ví dụ như có thật sự cần thiết phải thêm âm v hay không, v.v…) nhưng tiếng Nhật vẫn không ngừng đổi mới không ngừng chuẩn hoá. 

Bắt đầu học tiếng Nhật

Việc học tiếng Nhật một cách nghiêm túc trước hết phải bắt đầu từ bảng chữ này. Đương nhiên để tiếp xúc và làm quen với ngôn ngữ thì mỗi người có nhiều cách khác nhau, như xem phim nghe nhạc,… Người Việt mình khi học tiếng Nhật không mắc phải sai lầm này, nhưng có rất nhiều bạn Tây học tiếng Nhật tới giao tiếp căn bản được rồi nhưng vẫn không biết viết kana, dẫn đến rất khó có thể tiếp tục học lên cao hơn, giống như xây nhà mà bắc cái thang đó rồi đắp luôn mái xong xây tầng 2 đó, không có căn bản sao xây được cao. Thông thường thì bảng chữ này chỉ tốn khoảng một hoặc hai tuần nếu chăm chỉ cần mẫn mỗi ngày tầm 30p, nếu tập trung thì chắc một buổi cũng xong, rồi một buổi ôn tập là có thể tự tin đi đánh vần truyện tranh rồi (truyện tranh ở Nhật tất cả các kanji đều có ghi kèm phiên âm hiragana ở cạnh – gọi là furigana). À còn một sai lầm nữa là, cũng có nhiều người hỏi mình “mới học tiếng Nhật thì chọn học bảng chữ nào là thông dụng nhất?”… Hoàn toàn không giống phồn thể giản thể của tiếng Trung, muốn học tiếng Nhật thì phải bắt đầu với cả hai bảng chữ, hiragana được sử dụng nhiều hơn nhưng không có nghĩa là có thể bỏ qua katakana, cả hai đều được sử dụng rất thông dụng và đều cần thiết như nhau. 

Chọn ngôn ngữ nào để học?

Việc lựa chọn ngôn ngữ nào để bắt đầu học là trước hết tuỳ do sở thích của bản thân, sau đó là do tính tới yêu cầu của công việc và xu hướng của xã hội. Mỗi ngôn ngữ đều có những phần khó của riêng nó, và việc chọn ngôn ngữ học chính xác có thể làm tăng động lực học cũng như giúp việc học nhiều ngôn ngữ hiệu quả hơn. Trong bài viết này mình sẽ đưa ra một vài thông tin tham khảo cần thiết để lựa chọn một ngôn ngữ.

Hệ ngôn ngữ

Sơ đồ các hệ ngôn ngữ và các ngôn ngữ chính. Nguồn: Guardian (2015)

10 ngữ hệ phổ biến theo trang vistawide (xếp theo thứ tự)

  • Indo-European (Ấn-Âu): sử dụng ở châu Âu và một phần châu Á, các ngôn ngữ thông dụng có thể kể đến như Anh, Nga, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, v.v…
  • Sino-Tibetan (Hán-Tạng): sử dụng ở Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á, ví dụ như tiếng Trung Quốc, tiếng Thái, v.v…
  • Niger-Congo: sử dụng ở Châu Phi, tiếng Swahili được sử dụng nhiều nhất (các học giả polyglot mà mình biết đều học ngôn ngữ này). 
  • Afro-Asiatic (Phi-Á): sử dụng ở châu Phi và một vùng châu Á, phổ biến nhất là tiếng Ả rập. 
  • Austronesian (Nam Đảo): ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương, được sử dụng nhiều nhất là Java, Tatalog, v.v…
  • Dravidian: ở Nam Á, chủ yếu là Ấn độ, các ngôn ngữ thuộc hệ này như: Telugu, Tamil (cũng được rất nhiều polyglot học), v.v…
  • Altaic: ở Trung Á, ví dụ như tiếng Mông Cổ. 
  • Japanese: nói bởi các dân tộc Nhật Bản (Ainu, Japanese, Okinawa,…), có nhiều tài liệu cũng tính tiếng Nhật và tiếng Hàn thuộc về hệ Altaic hay Macro-Altaic, nhưng cũng có nhiều học giả khác tranh cãi cần phân biệt hệ này do các tính chất khác biệt. 
  • Austro-Asiatic (Nam Á): dùng ở phía Nam của châu Á. Tiếng Việt thuộc hệ ngôn ngữ này. 
  • Tai-Kadai: ở Đông Nam Á và miền nam của Trung Quốc. 

Độ phổ biến của một ngôn ngữ

Danh sách 10 ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trên thế giới theo trang babbel (2016)

  • Tiếng Trung Quốc: Ngôn ngữ mà cứ 6 người trên thế giới thì có 1 người sử dụng được, phổ biến ở khắp nơi trên thế giới.
  • Tiếng Tây Ban Nha
  • Tiếng Anh
  • Tiếng Hindi
  • Tiếng Ả Rập
  • Tiếng Bồ Đào Nha
  • Tiếng Bengali
  • Tiếng Nga
  • Tiếng Nhật
  • Tiếng Punjabi/Lahnda

Độ khó của một ngôn ngữ

Tuy có rất nhiều danh sách các ngôn ngữ khó trên thế giới, việc đánh giá một ngôn ngữ là khó hay dễ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, và đương nhiên do đó việc nhận định một ngôn ngữ là khó hay dễ chỉ mang tính chất tương đối. Các lý do thường thấy khi mọi người nhận xét đánh giá một ngôn ngữ là khó có thể kể đến như: chữ Hán nhiều nét khó nhớ (Trung, Nhật), ngữ pháp khó-phân chia giống đực cái (Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha,…), phát âm khó (Hàn, Trung), học đã lâu mà không thấy tiến bộ (Anh).

Bạn cũng có thể nhận thấy phát biểu độ khó này hoàn toàn là từ góc nhìn của một người Việt Nam đi học tiếng nước ngoài, có thể lấy ví dụ đơn giản là một bạn đến từ Trung Quốc sẽ không gặp khó khăn trong việc nhớ các nét và viết chữ Hán ở tiếng Nhật (ngược lại, họ sẽ gặp khó khăn trong việc đọc các chữ này), hoặc một vài người Nhật không hay sử dụng các chữ thuộc bản chữ cái alphabet cũng sẽ gặp khó khăn khi viết các chữ này một cách nhanh chóng (tin mình đi, mình đã từng gặp một bác Nhật chỉ biết viết bảng alphabet bằng chữ viết hoa chứ không thể viết theo kiểu chữ thường). 

Thế nhưng…

Tất cả thông tin phía trên hoàn toàn chỉ mang tính chất tham khảo để biết nhiều hơn về tình hình chung của các ngôn ngữ trên thế giới, không mang tính tuyệt đối vì mình chỉ tìm một danh sách trên google, và có nhiều danh sách khác nhau có vài điểm sai khác. Ví dụ nếu bạn chọn học một ngôn ngữ do độ phổ biến của nó, nhất định là sẽ học tiếng Trung rồi. Thế nhưng, thông tin nhiều người sử dụng chỉ mang tính chất tương đối, vì ngay bản thân trong tiếng Trung có bao nhiêu phương ngữ mà bạn có thể hiểu hết được? Bản thân người Trung Quốc khi đi đến các vùng miền khác nhau cũng không hiểu được đối phương nói gì nữa là một người học ngoại ngữ đi sử dụng tiếng Trung đó. Số người thực sự sử dụng ngôn ngữ đúng phiên bản các phát âm và cách viết cũng như cách sử dụng từ và ngữ pháp như bạn học thực sự rút lại còn bao nhiêu? Hay như chọn ngôn ngữ học vì dễ, rồi cuối cùng lại không sử dụng hoặc không có hứng thú mà bỏ ngang thì cũng phí hoài công. Điều thực sự mình muốn nhắc đến để chọn một ngôn ngữ là phần dưới đây. 

Tiêu chí để chọn một ngôn ngữ

Việc chọn ngôn ngữ không giống đọc chỉ đường, không có một tấm biển cụ thể nào chỉ cho bạn biết phải đi đâu cả. Ảnh: Yilan, Taiwan (2016).

Điều đầu tiên nhất định là hứng thú để học ngôn ngữ đó. Hứng thú này có thể bắt nguồn từ rất nhiều câu chuyện khác nhau mà chắc chắn mỗi người sẽ có những trải nghiệm rất khác biệt. Thay vì cân đo đong đếm ngôn ngữ nào có thể làm đẹp cho CV, hay học một ngôn ngữ đang hot hot thì sẽ thấy “ngầu”-thiên hạ đều học cớ chi mình không học, thì sao không thử theo nghĩa ngược lại, học một thứ mình thích, đam mê và tiến lên vì nó, sẽ thấy tiến bộ rất nhanh và mở ra những con đường hoàn toàn mới mà bản thân mình từ đầu không hề dự tính (có thể đọc thêm về những con đường mới mà tiếng Nhật mở ra cho mình ở con đường học tiếng Nhật của mình). Các lý do tạo hứng học có thể kể đến như: thích văn hoá, nghe bạn bè hay sử dụng nên thấy hay, muốn đi du lịch tới quốc gia đó, đi du học, muốn tìm hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mình đang sử dụng (nên học ngôn ngữ gốc để hiểu rõ hơn, ví dụ như học tiếng Trung sẽ hiểu rõ hơn tiếng Việt đó).  

Việc thứ hai là tính khả thi của việc học ngôn ngữ đó (tình hình sách vở, lớp học, thầy giáo, bạn bè,…). Chuyện này cũng rất quan trọng, vì muốn học một ngôn ngữ mà tài liệu không đầy đủ thì khác nào chưa bắt đầu đại sự đã gặp vô vàn trở ngại. Một điều vô cùng may mắn là ở Việt Nam hiện tại thì tài liệu học ngoại ngữ tương đối nhiều và đầy đủ, ngoài ra kiếm trên mạng cũng có rất nhiều người tải lên tài liệu rất đầy đủ (tuy nhiên mình ủng hộ mua sách gốc hơn, trước là ủng hộ tác giả, sau là thấy sách đẹp và mắc tiền tự dưng sẽ có quyết tâm học tốt hơn). 

Việc thứ ba là khả năng mục đích sử dụng ngôn ngữ đó. Học một ngôn ngữ tốn rất nhiều thời gian và công sức, nên việc đầu tư hợp lý cho nó là điều quan trọng trước hết, mà muốn đầu tư có hiệu quả thì phải hiểu rõ mục đích bản thân muốn sử dụng nó là gì. Có thể lấy ví dụ như đối với tiếng Trung, mục đích ban đầu của mình chỉ là nghe được phim mà không cần phụ đề tiếng Việt, có thể không cần viết cũng được, nên hiện tại khả năng nghe của mình tương đối ổn, còn khả năng viết và nói thì hơi í ẹ chút, nhưng nếu mình không đặt mục tiêu từ đầu mà cố gắng vươn cả 4 kỹ năng thì sẽ vừa mất phương hướng vừa khó tự thoả mãn bản thân và đâm ra nản. Điều thứ hai cần chú ý ở mục này chính là cơ hội, khả năng để sử dụng ngôn ngữ đó, học xong mà bỏ đó thì cũng phí. Ví dụ như bản thân mình đang rất thích tiếng Quảng Đông (Cantonese) và cũng đã bắt đầu học được một thời gian nhưng do không có bạn bè, không biết sử dụng ở đâu nên dần dần hứng thú cũng suy giảm và giờ là bỏ hẳn, cũng vẫn chưa tìm lại được lý do để học tiếp dù khá thích ngôn ngữ này. 

Điều tiếp theo là yêu cầu của công việclợi ích mà nó mang lại cho bạn. Điều này thì không phải nói thêm gì nhiều nữa, có lợi thì hiển nhiên là quyết tâm học lên cao và duy trì được dài hơn rồi. 

Vài lời

Viết một bài về thông tin các hệ ngôn ngữ, cách đánh giá độ khó của một ngôn ngữ nhưng cuối cùng những tiêu chí mà mình nhắc đến để chọn một ngôn ngữ lại hoàn toàn không liên quan tới những phần ở trên là do bản thân mình thấy chỉ cần mình có quyết tâm bắt đầu, thì ngôn ngữ khó hay “dễ” đều chỉ là tương đối, nhưng nếu mình không xác định rõ mục tiêu học thì sẽ dây dưa rất lâu thời gian mà không thể tiến bộ được (như việc học tiếng Trung của mình vậy). Biết được một ngôn ngữ thuộc về hệ ngôn ngữ nào có thể cho bạn cái nhìn tổng quan hơn về sự liên hệ giữa ngôn ngữ mà bạn định học và các ngôn ngữ mà bạn đã biết, biết được ngôn ngữ được đánh giá là “tương đối khó” hay không để bạn có thể xác định được rõ lượng thời gian và tâm tư mình phải đổ vào để vượt qua cái “khó” ấy, và cuối cùng điều để duy trì việc học một ngôn ngữ chỉ là lòng đam mê mà thôi. 

Việc gì cũng vậy, dục tốc bất đạt, cứ từ từ là làm được thôi. Ảnh: Hualian, Taiwan (2016).

Bản thân mình khi chọn các ngôn ngữ đều có những lý do rất riêng, mỗi ngôn ngữ là một câu chuyện dài mà nếu có hứng thú thì có thể tìm đọc tại đây (Anh, Nhật, Trung, Đức, Hàn). Việc chọn ngôn ngữ nào phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như mình đã nhắc tới ở trên, nhưng nếu cho bản thân mình lựa chọn lại thứ tự học các ngôn ngữ thì sẽ bắt đầu với Anh, Trung, Esperanto, Nhật, Hàn, Pháp (thay vì Đức) rồi mới tính đến các ngôn ngữ khác. Tiếng Anh là một ngôn ngữ quá phổ biến và tính là tương đối cơ bản nên nhất định phải học trước, rồi tiếng Trung cũng nên học từ sớm để quen dần với cách phát âm (tư duy nói tiếng Trung cũng gần tiếng Việt nên khi học sẽ không gặp nhiều khó khăn như các ngôn ngữ khác), sau đó là học Esperanto để biết được nguồn gốc của ngữ pháp. Hiện tại mình vẫn chưa bắt đầu học được Esperanto do có quá nhiều việc khác làm bận rộn (cộng lười biếng) nhưng nhất định sẽ học trong một tương lai rất gần và tổng hợp tại đây

Chuyện ôn và thi IELTS

Mình thi IELST tổng cộng hai lần, lần đầu được 6.5 vào năm 2010 và lần thứ hai được 8.0 vào năm 2016 (đáng ra là 8.5 rồi nhưng mà hắt xì một lần lỡ không nghe được 1 câu phần nghe nên bị mất 0.5 phần nghe TTTT, lỗi này có khóc bao nhiêu lần cũng không nguôi được huhu).

Lần thi IELTS đầu tiên

Mình thi IELTS lần đầu vào hè năm lớp 11 lên lớp 12 nếu mình nhớ không nhầm, cũng là lần đầu tiên mình đi thi một kỳ thi mang tính chất “tự nguyện” (tức là tự mình nộp tiền, mất tiền để thi) như thế, cũng tức là phải tự mình chịu trách nhiệm cho hành vi tiêu tốn tài sản của các bậc phụ huynh vì vài phút giây nông nổi. Đương nhiên là nông nổi rồi, lúc đó mình còn chưa định đi du học hay gì cả, cũng chẳng biết mặt mũi cái bằng nó ra làm sao, chỉ là thường mọi người học cùng ở ACET đều thi nên mình cũng thi, biết đâu điểm ổn thì có cái bằng…

Kiến thức mang đi thi là 3 khoá học ACET, nên mới thấy ACET dạy sát với IELTS như thế nào. Mình vẫn nhớ như in không bao giờ quên là hồi đó đi thi đề viết vào news media, mà khổ nỗi mình đọc sót, cứ nghĩ nó chỉ là news thôi thế là viết lạc đề 100%. May mắn là phần task 1 viết cũng ổn, và chắc là task 2 tuy lạc đề nhưng từ vựng rồi cấu trúc tốt nên vẫn vớt vát được 5.5 Viết. Một kỉ niệm quá đau thương mà tới giờ (đã 6 năm trôi qua) vẫn nhớ như in.

Lần này không ôn gì, đề cũng không làm, nên cũng chẳng có gì nhiều để kể…

Lần thi IELTS thứ hai

Mình thi IELTS lần thứ hai vào đầu năm nay, sau rất nhiều trì hoãn vì lúc thi (lại) không biết để làm gì, nhưng bản thân đã vào giai đoạn thích sưu tập chứng chỉ ngoại ngữ nên thôi cứ tới kỳ là thi… Mình đăng ký đầu tiên là vào tháng hai thì phải, định thi trước Tết, nhưng sau đó lại xin hoãn tới tháng 6 (do chưa ôn gì). Lưu ý luôn là trước khi thi hai tuần được hoãn thi lại một lần trong tối đa 4 tháng miễn phí hay sao ấy. Lúc mới ban đầu mình đăng ký thi là với mục đích lấy động lực tiếc tiền để học, nhưng rồi lại lười nên xin hoãn, tới hoãn một lần thì lần thứ hai không hoãn được nữa, đành phải học.

Lần này quyết tâm học thật, và lần trước được 6.5 rồi nên lần này nhất định phải đặt mục tiêu trên 7.0. Tài liệu học thì mình biết rất nhiều (tuy không dùng mấy) nên mình sẽ tổng hợp ở một bài viết khác. Mình sử dụng chính là đề thi thật từ các năm trước lượm lặt được trên mấy trang của Tàu và mấy trang facebook. Hồi đó chưa tổng hợp thành nhiều bộ như bây giờ, tới lúc mình ôn thi xong thì ra gần cổng trường ngoại ngữ mới thấy tá lả sách, giờ ai muốn ôn cũng có quá trời tài liệu luôn.

  • Đối với phần đọc và nghe, mình làm mỗi đề một lần, làm hết các đề rồi lộn lại làm thêm một lần nữa. Phần đọc đề 45 phút nhưng thường mình chỉ làm mất 20 phút do đọc rất nhanh, đọc quen rồi thì nhận ra được câu hỏi sẽ hỏi vào đoạn nào, chỉ có điều là nghe không thể rút ngắn được thời gian (thường mình sẽ tua nhanh 10-15s vào các đoạn cho thí sinh đọc đề vì mình thường vừa nghe vừa đọc chứ không đọc trước câu hỏi). Thường thì mỗi ngày mà rảnh và chăm thì sẽ làm được 3-4 đề.
  • Đối với phần viết mình cảm thấy hơi sợ nên cuối cùng quyết định đi học thêm, ở RES. Sau này mình thi được điểm cao nên quay lại đó lấy tiền thưởng, kết quả là bản mặt bị chụp lại trong lúc đang hâm dở và vẫn còn đang chềnh ềnh ở đấy thì phải…(giờ vẫn là nỗi hận lớn khi nghĩ lại thời khắc ham tiền ấy…). Học ở RES mình thấy cũng bình thường như mọi chỗ khác, tập trung vào việc dạy vài mẫu viết văn, rồi vài từ và dạy cách khai thác ý (mà mình tự thấy bản thân không cần lắm). Tuy nhiên việc giúp ích nhất là, nhìn các em trẻ tuổi hơn mình bao nhiêu mà phải tự nhủ bản thân cố gắng hơn (lại so sánh rồi…) Việc giúp ích nhất là thầy chữa cụ thể từng bài, biết được mình sai ở đâu. Trong cả quá trình ôn thi IELTS, mình viết tổng cộng 5 bài đều được chữa rất cẩn thận, ngoài ra ở nhà có lôi đám đề ra vạch ý cho khoảng 10 đề nữa, ngoài ra không ôn gì thêm.
  • Phần nói mình không ôn gì cả, chỉ có một quy tắc duy nhất nằm lòng, rồi trước hôm thi nói run quá nên có nhờ đồng chí bạn thân qua đóng làm giám thị để tập. Đồng chí bạn thì phát âm tốt lại dùng nhiều tiếng Anh kiểu thư giãn (slang chẳng hạn) nên cũng giúp mình thả lỏng với thay đổi tương đối trước khi thi (với cả đống thành ngữ và từ khó cố gắng nhồi vào đầu trước hôm thi).

Kết quả tới ngày thi thì do đã thi quá nhiều (ngược lại với lần đầu đi thi) nên cảm thấy rất bất cần đời, đến sát giờ rồi còn vừa đi vừa tung tẩy, lại còn gặp một người hơi không muốn gặp cho lắm… tinh thần bất ổn cộng thêm hắt hơi sổ mũi (cộng một ngàn vạn lý do khác) nên đi thi không được phong độ như ý lắm. Kết quả thì lại ngược lại, siêu bất ngờ vì quá cao. Mình đăng ký nhận kết quả qua tin nhắn nên được biết khá sớm, đọc xong sốc tưởng gửi nhầm…

Bài này chuyên để làm nhảm, sau hai lần thi thì mình cũng đúc rút được một ít kinh nghiệm, đảm bảo nếu có lần thi thứ ba chắc sẽ đem ra sử dụng. Chiếc bằng IELTS đầu tiên đưa mình vào lớp chất lượng cao của Ngoại thương, miễn tiếng Anh năm đầu, chiếc bằng IELTS thứ hai góp phần trong hồ sơ nộp cao học của mình, ngoài ra mình còn dùng hai bằng này đi xin việc, đi loè thiên hạ được tương đối, nên coi như 340 đô không bị uổng phí đi. Nếu thực sự muốn chứng tỏ quyết tâm, mình tin chắc 170 đô bỏ ra để thi IELTS không hề uổng phí, mà nhất là khi đạt được một kết quả nhất định, nhất định từ số điểm trên tấm bằng đó bản thân sẽ tiến tới những cánh cửa hay ho mới mà trước đó mình không thể nào nghĩ tới. Dây cũng là lý do mình luôn nghĩ nên thi các chứng chỉ ngoại ngữ ngay khi có thể.

Cách gõ tiếng Trung: Pinyin và Zhuyin

Pinyin (bính âm)

Khi mới bắt đầu với tiếng Trung hoặc tìm hiểu văn hoá Trung Quốc thì hẳn bạn đã được làm quen với cách dùng pinyin để ghi âm đọc tiếng Trung. Lời bài hát chẳng hạn, cũng hay được ghi âm pinyin để tiện hát theo.

Zhuyin (chú âm)

Zhuyin (hay BoPoMoFo – ㄅㄆㄇㄈ là 4 chữ đầu tiên của bảng chữ) là bảng chữ dùng để ký hiệu cách phát âm tiếng Trung. Cách ký âm này cũng được dùng rất phổ biến ở Trung Quốc nhưng sau này được thay thế bằng Pinyin, hiện tại cả Đài Loan cũng đang dần chuyển sang Pinyin nhưng phần lớn vẫn sử dụng Zhuyin. Người Đài hầu như không sử dụng Pinyin mà dùng Zhuyin để đánh máy và gõ chữ diện thoại.

Vài suy nghĩ

Bản thân mình không theo học trường lớp về tiếng Trung nên không rõ như thế nào, nhưng theo giáo trình Hán ngữ mà mình học (đã tổng hợp ngữ pháp các phần có thể tìm thấy ở mục tiếng Trung trong trang này), thì đều bắt đầu với Pinyin thay vì Zhuyin. Khi cài bàn phím cho điện thoại và gõ trên máy tính thì mình cũng thấy dùng Pinyin tiện hơn nhiều, nhưng khi quen mấy bạn người Đài và đi sang Đài mình mới bắt đầu được tiếp xúc với bảng Zhuyin và thấy gõ bằng bảng này nhanh và “có cảm giác” hơn nhiều. (Có thể là do mình học hành không qua trường lớp) Mình rất hay nhầm t và d khi gõ phím và thỉnh thoảng là cả khi đọc nữa, do bản thân mình đã khắc sâu âm đọc của mấy chữ này theo tiếng Anh (và tiếng Việt) rồi (do dùng cùng một bảng chữ). Nếu ngay từ đầu sử dụng bảng Zhuyin thì chắc chắn chuyện này sẽ không xảy ra. Nếu được lựa chọn lại một lần nữa thì mình nhất định sẽ học bảng Zhuyin trước.

Con đường học tiếng Anh của mình

Mình xuất thân là dân chuyên Toán từ tỉnh lẻ. Mở đầu câu chuyện như thế này để thấy xuất phát điểm học ngoại ngữ của mình thấp tới mức nào (xin lỗi tất cả các bạn giống hoàn cảnh mình mà học giỏi ngoại ngữ, nhưng mình đã có định kiến trong lòng là hoàn cảnh như mình thì thường sẽ không có thời gian/cơ hội để dành thời gian trau dồi ngoại ngữ). Thực lòng mà nói thì mình không phải là một học sinh chăm chỉ cho lắm, nhưng ít nhất sự thật là mình đã từng học chuyên Toán (tới hết năm lớp 12), và tới giữa cấp 2 mới chuyển lên Hà Nội. Hồi đó mình đều đi học ở lớp chuyên của trường chuyên, cũng đồng nghĩa với việc các thầy cô sẽ ưu tiên cho các môn “phụ” (trong đó có cả tiếng Anh), tức là không cần học điểm cũng cao, chỉ cần các em cố gắng ở môn mà các em giỏi là được. Một là không có ai thúc ép mình phải học tiếng Anh cả, và hai là tự bản thân cũng không thấy được việc cần thiết và cấp bách phải học tiếng Anh để làm gì. Bây giờ nhìn lại cảm thấy thật hối hận vì đã không chú tâm học tiếng Anh tử tế từ lúc còn tỷ phú về thời gian.

Cuộc đời vốn mông lung là mông lung ~

Giữa cấp hai mình chuyển lên học ở Hà Nội do một vài “sự cố” nho nhỏ, đây cũng là bước chuyển đầu tiên trong quá trình học tiếng Anh của mình. Trường mình học hồi đó là trường dân lập, nên các bạn cùng lớp không quá chú trọng vào mấy môn Toán Lý Hoá này nọ, thay vào đó là tập trung học tiếng Anh nhiều hơn. Các bạn cùng lớp đều đi học tiếng Anh ở ngoài, phát âm cũng hay chứ không như mình, tâm lý so sánh lại nhói lên trong lòng… Nhiều lúc bản thân cũng tự nhận thức được so sánh là không nên, nhưng vẫn không tránh khỏi cảm thấy tụt hậu với các bạn. Bắt đầu từ lúc này mình ý thức được là bản thân nên tập trung hơn vào việc học tiếng Anh, nên thời gian này mình làm rất nhiều bài tập ngữ pháp, nắm ngữ pháp rất vững. Thậm chí đợt sau đó làm đề thi chuyên ngữ còn đươc điểm gần tối đa…

Sau đó lên cấp 3, mình đã chọn học chuyên Toán, cũng tức là tạm dừng quãng đường chăm chỉ học tiếng Anh của mình. Hồi đó bản thân vẫn còn một ảo mộng nhỏ nhoi là cạnh tranh Toán với các bạn giỏi Toán, nhưng dần dần mình nhận ra sự giới hạn của bản thân về cả suy nghĩ, cả khả năng và cả lòng nhiệt tình đối với mục tiêu không tưởng ấy. Đối với Toán đòi hỏi phải suy nghĩ vắt óc dành toàn bộ thời gian cho nó, thì dường như tiếng Anh có vẻ là một môn học dễ nhằn hơn rất nhiều, chỉ đơn giản là học thuộc và bắt chước. Giữa việc khó và việc dễ, hoàn toàn là việc dễ trước mắt đã hấp dẫn mình hơn rất nhiều những ngày dài lăn lộn với những bài toán không giải được.

Năm lớp 11 mình bắt đầu chuyển hướng sang học tiếng Anh, bắt đầu là 3 khoá liền học ở ACET. Hồi mình học ACET chia làm 9 cấp tất cả, một lớp dự bị, cấp từ 1-7 và một lớp luyện thi IELTS sau cuối. Mình thi vào lớp 5 (tự bản thân cũng cảm thấy bất ngờ về khả năng của bản thân…) chắc là do làm nhiều ngữ pháp và viết cũng tạm ổn mà họ kiểm tra viết là chính nên mới được cao như vậy.

3 khoá học ACET đã mở ra cho mình con đường hoàn toàn mới…

3 khoá học ở ACET đã làm thay đổi hoàn toàn thói quen và suy nghĩ của mình về việc học tiếng Anh. Vậy nên, sau đó bất kỳ ai hỏi mình về trung tâm nào nên học, mình đều giới thiệu tới đây, vì thực sự ACET đã làm thay đổi bản thân mình lớn lao như vậy, mình cũng rất hi vọng đây có thể là nơi thay đổi rất nhiều người khác như mình. Lớp mình học là tuần 5 buổi, mỗi buổi 4 tiếng. Hồi này vẫn phải học trên trường, học xong từ chỗ học ra tới ACET đi mất 40 phút mà giờ nghỉ trưa cách có 1 tiếng, tức là vừa ngủ gà gật vừa ăn vừa mò ra chỗ học và bắt đầu với một ngôn ngữ khác luôn. Tuy nói thế nhưng, nếu không có khoảng thời gian áp lực này, tự ép mình phải dùng tiếng Anh trong 20 tiếng đồng hồ mỗi tuần, thì đúng là không thể có một bản thân Thảo yêu ngoại ngữ như ngày hôm nay. Sau này tới lúc học tiếng Đức 4 tiếng cũng thấy không mệt mỏi, trái lại thầy thì có vẻ không thích lắm vì mệt haha…

Ở ACET mình gặp được người thầy đã thay đổi bản thân mình, là Steve, không rõ giờ thầy còn dạy ở đó không. Thầy nói một câu mà mình nhớ mãi, học tiếng Anh chỉ đơn giản là đang bắt chước, ai dùng giỏi hơn chẳng qua là bắt chước người bản xứ giỏi hơn mà thôi, nhưng việc em đang nói gì lại dựa vào kiến thức, rằng ngôn ngữ chỉ là công cụ để diễn đạt kiến thức mà em có, nên cùng với học tiếng Anh, muốn nói được phải nâng cao cả kiến thức bản thân. Mình chỉ là một đứa sách vở, trong đầu chỉ có công thức toán, giải mẹo, vài tác phẩm văn học đọc linh tinh, chứ mặc nhiên không biết gì về thế giới bên ngoài tin tức như thế nào. Học ACET, rồi ôn IELTS sau này là ôn SAT, mới nhận thấy bản thân thiếu hụt kiến thức như thế nào. Và chính trong quá trình thu thập tiếp cận thêm kiến thức mới ấy, thông qua các trang tiếng Anh, năng lực tiếng Anh của mìng cũng tăng cao mà bản thân cũng không ngờ tới.

Sau khi học hết 3 khoá ACET, từ chỉ biết lơ mơ lờ mờ thì mình thi được 6.5 IELTS. Chuyện thi IELTS và ôn thi mình sẽ kể cụ thể ở một bài viết khác vậy. Từ đây mình bắt đầu con đường tới với American Dream ~ giấc mơ Mỹ của bản thân bằng việc tập trung ôn SAT và chuẩn bị nộp hồ sơ vào các trường đại học ở Mỹ.

Quá trình học SAT cũng là một quá trình thử thách năng lực tiếng Anh của bản thân, cũng đẩy lượng từ vựng mà mình đang có lên rất nhiều. Đây là khoảng thời gian đầu tiên và duy nhất trong suốt bao nhiêu năm học tiếng Anh của mình, mình tự có ý thức được về việc từ vựng quan trọng như thế nào. Trong SAT có một phần thi rất quan trọng là Verbal, mà nếu không có lượng từ vựng đủ lớn thì có suy luận siêu tới cỡ nào cũng không thể làm được. Vậy nên, mình bắt đầu với danh sách 3500 từ vô cùng nổi tiếng của Barron và … cứ thế học thôi. Không nhớ là mỗi ngày 100 từ hay là 50 từ, nhưng ngày nào cũng như ngày nào gạo từ trên xuống dưới từ dưới lên trên, giờ nhớ lại cũng chỉ có động lực trẻ trâu về cái viễn cảnh tươi đẹp xa vời ở nơi xa mới có thể đẩy cho mình động lực học như trâu thế…

9 tháng thời gian ôn thi SAT mình cũng phải tự trang bị cho bản thân rất nhiều kiến thức khác, thông qua việc đọc tiếng Anh nên khả năng đọc hiểu cũng tăng lên tương đối. Mình bắt đầu đọc những tác phẩm như Giết con chim nhại (To kill a mocking bird), Bắt trẻ đồng xanh (The catcher in the rye),… cũng như đọc báo đọc tin tức và lịch sử nhiều hơn. Thời điểm bắt đầu một câu tra 3 chữ thì tới khi thi SAT mình đã tới mức cả trang không cần tra cứu, vẫn nhiều từ không biết nhưng dù sao đọc vẫn đoán được hiểu được.

Giữa cuộc đời rồi mỗi người đều có một hướng đi …

Vì một vài lí do mà giấc mộng Mỹ của mình không thể hoàn thành, mình vào học Ngoại thương, chuyên ngành Kinh tế đối ngoại và học bằng tiếng Anh (xin lược bỏ 1000 chữ về sự bất mãn). Thời gian này tuy dùng tiếng Anh để thi, rồi làm bài luận, tới lúc viết khoá luận vẫn là tiếng Anh nhưng mà cảm giác không có mấy tiến bộ nếu không muốn nói là thụt lùi do đâm đầu đi học các ngôn ngữ khác làm phá tiếng Anh (Trung, Nhật, Hàn).

Điều hơi buồn cười chút là tiếng Anh mình học chỉ đơn thuần để đi thi, mục đích ban đầu là thi chuyên ngữ, rồi thi IELTS, rồi SAT, rồi lại IELTS lần 2 (mình sẽ nói kĩ hơn về 2 lần thi IELTS ở một bài viết khác). Vậy nên tới tận hết 4 năm đại học mình chẳng có người bạn nói tiếng Anh nào, trái lại học mấy tiếng Trung Nhật Hàn chỉ thời gian ngắn là đã quen rất nhiều bạn, vì vui, và mấy tiếng đó còn dùng được. Thế mới thấy học theo kiểu gạo bài rồi áp vô mấy kì thi nhiều lúc vô dụng tới mức nào.

Trong năm cuối đại học mình có theo học 2 lớp của thầy Vũ, thực sự lại thay đổi mình lần nữa về cách suy nghĩ bằng tiếng Anh. Trước giờ mình rất ngưỡng mộ những người sinh ra trong gia đình 2 ngôn ngữ, hay là những người học ngôn ngữ quá giỏi tới mức có thể suy nghĩ bằng một ngôn ngữ khác (cũng liên quan tới vài điều mình nhận ra khi sử dụng cùng lúc nhiều ngôn ngữ ở Nhật mà mình nhắc đến ở một bài viết khác). Học xong lớp thầy Vũ mình mới thực sự hiểu người nói tiếng Anh bản xứ và người học tiếng Anh khác nhau ở chỗ nào, chính là ở hai chữ “bản xứ”, cho nên muốn giao tiếp thuận lợi thì trước hết phải hiểu được tại sao người ta lại dùng những từ ngữ như vậy, và rằng trực dịch không bao giờ có thể truyền tải được nội dung muốn giao tiếp.

Thật sự là đang ở Nhật rồi mà sao xài tiếng Anh còn nhiều hơn tiếng Nhật lol

 Tới bây giờ, khi bắt đầu học thạc sĩ bằng tiếng Anh mình mới sử dụng tiếng Anh được một cách tương đối tự tin, tức là cảm thấy mình hiểu những gì mình nói ra miêng, thay vì cảm giác mình đang trả bài học thuộc. Học thạc sĩ rồi phải nghiên cứu cũng tức là phải chủ động tranh luận với thầy (và các bạn) rất nhiều, các vấn đề đòi hỏi phải chính xác chứ không thể đại khái như lúc nói chơi chơi ở ngoài được, nên dần dà tuy mới mấy tháng, nhưng mình cảm giác được tiếng Anh của mình gẫy gọn và đúng ý hơn rất nhiều (ngoài ra còn bỏ được tật dùng mấy mẫu câu rồi thành ngữ IELTS speaking vào nói chuyện…).

Hiện tại để đánh giá lại tổng quan khả năng tiếng Anh của bản thân sau rất nhiều thời gian dùi mài kinh sử trải qua bao đoạn thăng trầm tưởng dứt mà vẫn không dứt được, thì cũng có thể tính là tạm ổn đi. Mình đã mất 4 năm cấp 2 học ngữ pháp, 2 trong 3 năm cấp 3 dành cho học giao tiếp (3 khoá ACET) và từ vựng (9 tháng ôn SAT), rồi dành 4 năm dùng thứ tiếng Anh lõm bõm đó để lấy được cái bằng đại học, và 8 tháng dùng tiếng Anh thực sự, hiện tại cảm thấy vẫn không hề tự tin khi sử dụng tiếng Anh. Vì sao nhỉ, có lẽ ngay từ đầu mục đích học đã sai lầm khi quá ép bản thân vào khuôn mẫu mà không hề tìm cách “hưởng thụ” niềm vui khi học ngôn ngữ. Mình vẫn cảm thấy tự tin khi bật ra tiếng Nhật hơn nhiều nhiều khi nói tiếng Anh dù tiếng Nhật chỉ học 2 năm trong đó 1 năm đi học thêm còn 1 năm là lao nhao bát nháo…

Từ giờ, nhất định sẽ phải trân trọng tiếng Anh nhiều hơn, trau dồi nhiều hơn để có thể tự tin hơn với ngôn ngữ mà mình đã gắn bó với hơn chục năm nay mới được, tính ra thì vẫn còn phải nhờ cậy tiếng Anh nhiều nhiều… Gần đây xem chương trình giải trí hay phim tiếng Anh mới hiểu được kha khá, và mới cười được, thôi thì cũng coi là tiến bộ lớn //.

Tổng hợp Giáo trình Hán ngữ – Quyển 5

Tổng hợp cụm từ cần lưu ý trong Giáo trình Hán ngữ – Quyển 5

Bài 1
说实话:nói thật ra thì…
一下子:trạng từ chỉ hành động, sự việc xảy ra nhanh. 几年不见,他一下子长这么高了。
终于:cuối cùng (thì cũng…)
一切:tất cả, thường dùng với 都. 这里的一切对我来说,都是那么有趣.
如果:nếu
果然:quả nhiên (sự việc diễn ra đúng như dự đoán)
只好:chỉ còn cách … (mới tốt)
对于:về, đối với (tiếng Anh là with regards to)
:và/nhưng (nối 2 câu, cụm)

Bài 2
:dựa vào, nhờ vào
:các/mọi (nhắc đến tất cả mọi người/mọi thứ thuộc thuộc về một bộ phận phân loại nhất định) 每天都有全国各地的游泳者来这里参加。
各 nhắc đến tất cả với ý nghĩa là các cá nhân đều giống nhau, có thể dùng trước danh từ, nhưng chỉ dùng với một số từ đếm nhất định, và không dùng với số đếm.
每 nhắc đến “tất cả” đều như nhau, phải dùng với từ đếm hoặc số đếm (trừ 人,家,月,日,星期,周)
表示:biểu thị, thể hiện, tức là, có ý. 朋友们知道我考了第一名,都向我表示祝贺。点头表示同意。你说了以后,他有什么表示?
又…又…:vừa… vừa… (thể hiện các hành động liên tiếp, nối nhau)
分别:phân biệt, khác nhau, riêng (liên quan đến các hành động khác nhau, hoặc các chủ thể khác nhau, có thể dùng như danh từ hoặc động từ). 对不同情况,应该分别对待

Bài 3
拿+名词+来+动词:lấy… để làm gì đó… (giới thiệu một chủ đề mới), chỉ dùng với các động từ 说,看,讲,比,比较,分析. 那人民生活水平来说,提高还是很快的。
动词+下:… xuống, xong (thể hiện hành động đã hoàn thành, ám chỉ “bỏ xuống” hoặc một hành động từ cao xuống thấp). 脱下冬衣。我们从这里走下山去吧。
动词+上:… thành, tới, lên (thể hiện hành động có kết quả, ám chỉ “nhập lại” hoặc một hành động từ thấp lên cao).一到春天,人们都投下冬衣,换上春装。她今年终于考上了大学。
多么:biết bao, bao nhiêu là… (cảm thán lượng nhiều).多么好意思啊!
也许:có thể (thể hiện ý đối lập hoặc không chắc chắn). 去了以后,也许你会爱上这个美丽的城市。

Bài 4
一点儿+也+不/没:một chút/một ít… cũng không… (phủ định hoàn toàn).   一点儿也不了解你的意思。
不过:nhưng, cùng nghĩa với 但是 nhưng hay được dùng trong văn nói hơn
简直:nói một cách đơn giản thì…, dùng để thể hiện ý cường điệu
当然:đương nhiên, có thể dùng độc lập hoặc trả lời cho câu hỏi
:từ…, thường mang nghĩa điều gì đó không thay đổi, dùng trong câu phủ định. 我以前从没来过日本,这是第一次。
动+着+动+着:đang… thì (bị một hành động khác xen vào). 他说着说着突然笑了起来。

Bài 5
再说: sau này bàn tiếp sau, có thể dùng như một lời từ chối lịch sự. 这件事以后再说吧。
其实:thật ra
实在:thật, thật sự
用得着:cần thiết, phải, trái nghĩa 用不着:không cần, không phải. 有什么意见你就好好说,用不着生这么大气。
至于:nói đến chuyện…, dùng để thay đổi chủ đề, đưa ra đề tài mới

Bài 6
半…不…:nửa… nửa (không)… 半懂不懂
一脸的警惕:toàn là
不料: thật bất ngờ, ngoài dự đoán
一+动词: vừa mới… , đã… 他一说,我们都笑了
竟然:thực tế, thật ra (ngoài tưởng tượng), hoá ra lại là 没想到这次考试题竟然这么简单
只是:chỉ là 我只是问问你,没有别的意思
并:dùng trước gì đó để diễn tả phủ định toàn bộ, hoàn toàn không/chẳng… chút nào. 你说他笨,其实他并不笨
一… 一… thể hiện sự tiếp tục, hoặc toàn bộ: 一问一答,一心一意

Bài 7
动词+下去: sự tiếp nối của hành động… (làm gì đó) tiếp : 请听他说不去
根本:căn bản: về cơ bản thì… (hoàn toàn không)… 今天的会根本没通知我
对…入迷: bị… mê hoặc, làm hấp dẫn: 优美的音乐让人听得入迷
偷偷:một cách bí mật, lén lút, không ai biết: 他看大家不注意,就偷偷离开了
为了:为了演好这个节目,他们常常练到很晚
不管:bất kể 不管做什么事,她都非常认真
其中:trong số đó: 中国有很多河,长江是其中最长的一条
既然:một khi đã, kể từ khi 既然病了,就会宿舍休息吧

Bài 8
任何:bất kì 做任何事情都不可能随随便便成功
尽量:tận tâm, tận lượng, hết sức: 你放心吧,只要我能做到的,我会尽量帮忙
立刻:lập tức: 吃了早饭我就立刻去机场接她, nhanh hơn 马上
一连:liền, liên tục: 一连下了两天雨,路上到处都是水
仍然:thế mà lại vẫn còn… (đồng nghĩa với: 还)diễn tả trạng thái không đổi 昨天有雨,今天仍然有雨

Bài 9
曾经:đã từng (từ khoảng thời gian xa và đã kết thúc, khác với 已经 là việc đã xảy ra tương đối gần đây và có thể vẫn còn tiếp tục) 曾经度过一个让我看懂的故事
到底:rút cục/cuối cùng đã… được (khác với 终于 là có thể sử dụng được trong câu hỏi, bắt buộc phải kèm theo了. 问题到底解决了/他到底来不来?
算:tính là/coi như 这几天不算太冷
原来:chỉ những thứ quá khứ, lúc đầu (với ngụ ý bây giờ đã thay đổi), hoặc thể hiện sự phát hiện một cách đột ngột ra rằng sự việc không phải như vẫn nghĩ 这几天他都没来上课,原来他病了
装:giả bộ như
对…来说: về việc… mà nói…

Bài 10
不把…放在眼里:không để… vào mắt, mang ý khinh thường, không coi trọng
:dùng thay cho các động từ 做,干,办, mang nghĩa làm,… cụ thể thay đổi theo câu
:nghĩa là làm,… cụ thể thay đổi theo câu, dùng với 了,着,过
甚至:thậm chí
以后:sau này, có thể chỉ tương lai, hoặc sự việc ở hiện tại còn kéo dài được đến tương lai (以来 chỉ sử dụng để nói tương lai)
:nhưng, dùng trước động từ để thể hiện sự thay đổi về sắc thái ngữ nghĩa. 虽然也有点儿想家,但是我却不感到寂寞
偶然:tình cờ, ngẫu nhiên, không phải là không thể tránh khỏi 我偶然想起了他

Bài 11
大约:xấp xỉ
不约而同:không hẹn mà cùng…, chỉ hai người làm hoặc nghĩ giống nhau cho dù không nói trước. 我们不约而同地说:“同意”。
只见:chỉ thấy…, không có chủ ngữ
无奈:không có sự lựa chọn, bắt buộc phải, cũng có thể dùng để nối câu với ý nghĩa ý định ở vế 1 có thể sẽ không thực hiện được (do vế 2)
十分:rất, hoàn toàn, không thể dùng 十分十分 nhưng có thể dùng 不十分 chỉ mức độ thấp.
形容词+下去:vẫn cứ… mãi, chỉ trạng thái hiện tại vẫn tiếp tục với mức độ cao hơn, và nhấn mạnh vào sự tăng cấp trạng thái này. 天气要是这么冷下去,我可受不了了

Bài 12
好不+形容词:không thể không…, rất/quá…
尽管:cho dù, tự nhiên/không cần khách khí. 尽管我已经长大了,可是在妈妈眼里,我还是个少孩子。有什么话尽管说吧,别不好意思。
难免:không thể tránh khỏi, dùng trước động từ, và thường theo sau bởi 要,会. 即使朋友之间也难免看法不同。
恐怕:chỉ sợ…, dùng để đánh giá tình hình và bộc lộ sự lo lắng về tình huống xấu có thể sẽ xảy ra. 我们快走吧,恐怕要下雨。
免得:không thì (or else), dùng ở vế 2 với ý nếu làm được vế 1 thì sẽ tránh được điều không mong muốn xảy ra (như được viết ở vế 2). 我病的事你最好不要告诉他,免得他担心。
以为:vốn nghĩ là…, dùng khi phát hiện suy nghĩ trước của bản thân là sai. 都十二点了,我以为还是不到十点呢。
:bổ ngữ sau một số động từ, đến (làm gì đó). 我来帮你拿

Bài 13
总之:sau tất cả, tổng kết lại, suy cho cùng. 听力,口语,阅读,写作,总之那门功课都很重要,都的学好。
总得:đều phải, cũng phải, thể hiện sự cần thiết và bắt buộc. 不能去上课,总是告诉老师一声
:đủ, quá, dùng trước tính từ và kết câu hay đi cùng với 的,了,的了. 今年夏天天气够热的。
哪怕:cho dù… cũng sẽ (không thay đổi), dùng với 也,都,还
:dám… (có dũng khí để làm gì đó), dùng trước động từ hoặc dùng một mình trong câu hỏi, phủ định là 不敢,没敢
好在:vừa vặn, thích hợp 房间不太大,好在只我一个人住
为难:làm khó (tự đặt mình hoặc ai đó vào thế khó) 我真的不会唱歌,你就别为难我了
反而: thế mà lại (trái ngược hoàn toàn với những gì vừa nói, ngược với tiếp diễn tự nhiên) 他离这儿最远,反而来得最早
一…就是…:vừa… thì sẽ làm gì đó mãi 我在电脑前一坐就是一上午 

Từ điển tiếng Trung – Websites và Apps

Website Từ điển tiếng Trung

Mình sử dụng tương đối nhiều website từ điển tiếng Trung cùng lúc để tra từ, vì thông tin nhận được khác nhau phục vụ cho các mục đích khác nhau. Để phục vụ cho việc so sánh trong bài viết này mình sẽ tra tất cả các từ điển với cùng một từ 梦想.

(1) Vietgle

http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-trung/tu-dien/lac-viet/V-T/-all.html

Trang này có cả từ điển Trung-Việt Việt-Trung và Trung-Anh Anh-Việt nên là địa chỉ mình hay truy cập nhất. Mấy từ điển Trung-Việt khác trên mạng đều sử dụng cùng nguồn từ vựng với trang này, nhưng cách trình bày bố cục kết quả không rõ ràng (lỗi phông…) nên mình không sử dụng.

Kết quả trả về rất rõ ràng, có âm pin-yin, biểu tượng loa để nghe phát âm, nghĩa và vài ví dụ.

(2) Hán Việt từ điển

http://hvdic.thivien.net/

Tra từ điển này ra cả âm Hán Việt của từ nên dễ hình dung phần nào nghĩa và nhớ cách đọc hơn, có thể tra âm Hán-Việt hoặc pin-yin.

Tra âm Hán Việt
Tra pin-yin

(3) Line Dict

http://ce.linedict.com/dict.html

Từ điển Trung-Anh Anh-Trung này tiền thân là Nciku, bị LINE mua lại rồi làm thành Line Dict thì phải, mình đã dùng nó từ rất lâu rất lâu rồi… từ hồi không học tiếng Trung mà thi thoảng chỉ tra cho biết cho vui thôi. Điểm đặc biệt nhất của từ điển này là có thể tra từ dựa trên việc vẽ chữ (nhiều trang web khác cũng có chức năng này nhưng nhận diện chữ ở đây đúng nhất, viết sai thứ tự nét hay nét nguệch ngoạc cũng vẫn nhận được). Ngoài ra còn có thể xem luôn mức kỳ thi HSK mà từ này sẽ xuất hiện, thứ tự nét, nghĩa, ví dụ (kèm âm thanh).

(4) Google Dịch

Dịch tự động, kết quả trả về rất nhanh nhưng thường… hơi kì, chỉ nên sử dụng khi tra từ chuyên ngành, hoặc muốn hiểu đại ý của một đoạn văn dài.

Ứng dụng trên điện thoại

(1) Từ điển Trung Việt

Android|iOS

Mình đã thử rất nhiều ứng dụng trên appstore, kết quả đây là ứng dụng tra Trung-Việt Việt-Trung tốt nhất mà mình đã thấy :). Kết quả hiển thị rõ ràng, đẹp, có thể sử dụng offline, có kèm phát âm, nối với google dịch, có thể xem lại lịch sử,… Tổng hợp lại thì hầu như tất cả các yêu cầu mà mình cần thì ứng dụng này đều đáp ứng được.

(2) Pleco

Android|iOS

Đây là ứng dụng tra Trung-Anh Anh-Trung đầu tiên và cũng là duy nhất mà mình sử dụng, vì độ tiện dụng của nó đánh bại tất cả các ứng dụng tương tự khác :). Chức năng của ứng dụng này chắc viết cả một bài cũng không hết, nhưng đúng là cần gì, Pleco đều có ~ Màu sắc của chữ Hán dựa trên thanh âm của chữ đó: thanh 1 (đỏ), thanh 2 (xanh lá), thanh 3 (xanh dương), thanh 4 (tím), thanh nhẹ (xám).

Kết quả bao gồm từ, pinyin, nghĩa và ví dụ câu, các câu đều có kèm file nghe. Ví dụ như từ 梦想 có hai chữ Hán thì có thể bấm vào mỗi chữ để liệt kê các từ khác cũng có chữ Hán đó, rất tiện lợi.

(3) Google Dịch

Android|iOS

Chức năng của ứng dụng Google Dịch thì cũng tương tự như khi sử dụng trên máy tính, nhưng đối với điện thoại thì việc có thể dịch dựa trên nhận diện chữ viết trong hình ảnh là tiện nhất. Các ứng dụng khác đều yêu cầu “vẽ” lại chữ, nhưng Google Trans có thể dịch từ ảnh, và gần như là hoàn toàn đúng (như hình dưới là nhận diện tiếng Nhật, nhưng tiếng Trung cũng tương tự).

//Ngoài ra cũng còn tương đối nhiều website/ứng dụng khác mà mình đã từng thử qua, nhưng đây là các website/ứng dụng mà mình hay sử dụng nhất ;).

Từ điển tiếng Nhật – Websites và Apps

Website Từ điển tiếng Nhật

Mình sử dụng tương đối nhiều website từ điển tiếng Nhật cùng lúc để tra từ, vì thông tin nhận được khác nhau phục vụ cho các mục đích khác nhau. Để phục vụ cho việc so sánh trong bài viết này mình sẽ tra tất cả các từ điển với cùng một từ 工場.

(1) Tratu của Soha

http://tratu.soha.vn/

Đây là một từ điển tương đối lớn, hầu như những từ đơn mình tra đều có, cách trình bày rõ ràng, có câu ví dụ và dịch nghĩa câu ví dụ. Ngoài từ điển Việt-Nhật Nhật-Việt còn có cả từ điển Nhật-Anh, Anh-Nhật. Điểm mạnh của từ điển này là các từ vựng chuyên ngành rất nhiều, có các cụm từ vựng hay sử dụng được phân loại rõ ràng.

Từ điển này phân rõ theo từ loại, theo cách đọc bằng màu đỏ, nghĩa màu đen, lĩnh vực màu xanh, từ chuyên ngành sẽ được tách riêng theo từng mục ở dưới.

(2) Mazii Dictionary

http://mazii.net/

Từ điển này cho phép tra Việt-Nhật (100.000 từ), Nhật-Việt (250.000 từ), Hán tự và cả ngữ pháp, mẫu câu. Điểm mạnh của từ điển này là trong khung tìm kiếm từ có thể gõ tiếng Nhật, tiếng Việt hoặc romaji đều có thể trả về kết quả từ cần tìm kiếm. Ngoài ra, bạn có thể nghe cách phát âm của từ, hay tham khảo các từ vựng liên quan tới từ mà bạn vừa tra, tuy nhiên đối với các từ vựng mở rộng thường chỉ có tiếng Anh chứ không có tiếng Việt. Nếu từ/cụm từ bạn tra không có trong từ điển, mazii sẽ tự động trả về kết quả dịch tự động.

Đây là một phần kết quả trả về khi tra từ, phía dưới là một vài từ liên quan khác, ví dụ như 染色工場,…

(3) Hán Việt từ điển

http://hvdic.thivien.net/

Tra từ điển này nhiều khi không ra nghĩa/nghĩa tiếng Trung nhưng cho cách đọc Hán Việt của từ nên dễ hình dung phần nào nghĩa và nhớ cách đọc hơn.

(4) Alc

http://www.alc.co.jp/

Đây là từ điển Anh-Nhật, Nhật-Anh. Từ điển này rất tiện dụng khi muốn tìm kiếm các cụm từ chuyên ngành bằng tiếng Anh hay tiếng Nhật, hay tìm ví dụ sử dụng trong câu.

Tìm kiếm trả về 1034 kết quả, không chỉ từ mà còn cả các cụm từ hoặc câu nên rất tiện dụng khi muốn tìm cách sử dụng từ.

(5) Weblio

http://ejje.weblio.jp/

Đây là từ điển rộng và có thể coi là đầy đủ nhất, nhưng ngược lại vì lượng thông tin quá nhiều nên cũng khó lựa chọn. Bản thân mình rất ít khi dùng từ điển này, trừ khi muốn tìm hiểu rõ hơn về một cụm từ thôi.

null

(6) Google Dịch

Dịch tự động, kết quả trả về rất nhanh nhưng thường… hơi kì, chỉ nên sử dụng khi tra từ chuyên ngành, hoặc muốn hiểu đại ý của một đoạn văn dài.

Ứng dụng trên điện thoại

(1) Jdict

Android|iOS

Ứng dụng từ điển Việt-Nhật, Nhật-Việt gọn nhẹ, nhiều từ và có thể coi là tốt nhất mà mình thấy trên appstore. Kết quả trả về là từ, cách đọc, cách phát âm, cụm từ ví dụ và giải thích, âm Hán-Việt. Từ đã tra cứu cũng có thể được lưu trữ để xem lại sau.

(2) Mazii

Android|iOS

Đây là ứng dụng phát triển từ mazii.net nên phần nghĩa và chức năng gần tương tự như website mình đã nhắc đến ở trên.

(3) imiwa?

iOS

Với ứng dụng này có thể cùng lúc tra được rất nhiều thứ tiếng cùng với các câu ví dụ kèm cách đọc (file âm thanh). Hạn chế duy nhất là dung lượng của từ điển offline quá nặng T.T.

(4) Google Dịch

Android|iOS

Chức năng của ứng dụng Google Dịch thì cũng tương tự như khi sử dụng trên máy tính, nhưng đối với điện thoại thì việc có thể dịch dựa trên nhận diện chữ viết trong hình ảnh là tiện nhất. Các ứng dụng khác đều yêu cầu “vẽ” lại chữ, nhưng Google Trans có thể dịch từ ảnh, và gần như là hoàn toàn đúng (như hình dưới).

 Ngoài ra cũng còn tương đối nhiều website/ứng dụng khác mà mình đã từng thử qua, nhưng đây là các website/ứng dụng mà mình hay sử dụng nhất ;).