Con đường học tiếng Trung của mình

Chuyện tình của mình với tiếng Trung có thể tóm gọn lại bằng một câu là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên kiến diện bất tương phùng”. Mình học tiếng Trung vào thời điểm không hề thích hợp để làm việc đó, và lúc nên học và cần học thì lại không học. Trước hết cái sự “vô duyên” là ở thời điểm bắt đầu học tiếng Trung, mình bắt đầu học tiếng Trung tương đối muộn.

Lý do học tiếng Trung

Sở dĩ mình nói mình bắt đầu học tiếng Trung muộn, là do trước giờ mình chưa từng nghĩ mình sẽ học đến ngoại ngữ thứ 4, trước khi vào đại học thì chỉ nghĩ làm thế nào nói được tiếng Anh với người nước ngoài, nhìn thấy Tây mà không sợ chạy mất thì đã là một thành tựu rồi. Nếu biết trước có ngày đâm đầu vào sự nghiệp không lối thoát này, nhất định sẽ học tiếng Trung đầu tiên, đây cũng là câu mình nói với tất cả bạn bè mình khi đang băn khoăn xem nên học ngoại ngữ gì. Tiếng Trung rất gần với tiếng Việt, ngữ pháp cách tư duy từ vựng đều rất gần gũi nên không gặp khó khăn trong việc tư duy sắp xếp thứ tự từ. Hơn nữa, tài liệu học và trung tâm tiếng Trung vô cùng sẵn, chi phí học và tiếng Trung tương đối rẻ (cứ so với tiếng Anh mà xem (!)). Một điểm vô cùng lợi trong việc học tiếng Trung là khi đi du lịch nước ngoài, đôi khi dùng tiếng Trung còn tiện hơn tiếng Anh.

Điều hay ho nhất (và mình cảm thấy hối hận nhất khi không học tiếng Trung đầu tiên, là tài liệu bằng tiếng Trung vô cùng nhiều, muốn gì có đó và luôn luôn dễ dàng để tải về một cách miễn phí. Bằng chứng vô cùng đau lòng là hồi ôn thi IELTS phải học bằng sách tiếng Trung, vì mấy tài liệu quen quen không giúp ích nhiều cho mình lắm còn tài liệu hữu ích thì bán quá mắc, mấy cái phần giải thích đọc không hiểu, lại vác đi hỏi một bạn Trung và bạn đó giải thích bằng tiếng Trung thì mình không hiểu… (siêu thảm hoạ). Giá mà hồi đó biết tiếng Trung tốt hơn, chắc sẽ học và hiểu mấy cái đề IELTS đỡ vất, tìm tài liệu học cũng đỡ cực hơn,… Cuối cùng cách giải quyết là bạn đó giải thích bằng tiếng Nhật (ôi trời, đắng thay T.T…). Thỉnh thoảng vẫn nhớ lại chuyện này để cảnh tỉnh bản thân một cách đầy cay đắng, là đã thiếu sót như thế nào khi không học tiếng Trung từ sớm, khi còn đang rất rảnh ở cấp 3 và đại học.

Lần đầu tiên ngồi xuống bàn giở sách đặt bút viết những câu tiếng Trung đầu tiên từ quyển giáo trình Hán ngữ một cách tử tế (trước đó có học linh tinh vài lần, chỉ học từ và chưa quá được bài 5) là vào những ngày đầu năm mới của năm 2014, khi mình đang chuẩn bị thi tiếng Nhật vào cuối năm đó. Mình nhận được kết quả thi tiếng Nhật N2 vào đúng ngày mùng 1 tết (đi ra đi vô mãi không dám xem kết quả vì sợ nhỡ vạn nhất tạch thì xui cả năm, năm 2014 mình định thi rất nhiều), và may mắn là đỗ. Con đường từ N2 lên N1 chắc chắn không hề đơn giản, và mình cảm thấy bản thân không đủ tự tin cũng như thời gian dư dả để có thể tiếp tục chiến đấu với nó, nên năm này đã đặt mục tiêu là tự thả lỏng bản thân một chút với một sự bắt đầu mới (là tiếng Trung).

Ngoài ra thì với lượng kanji ít ỏi mà mình học được từ N2, mình không đủ tự tin để có thể nắm bắt được kanji sử dụng cho N1 (không phải chỉ đơn giản con số khoảng 2000 kanji, mà còn biết bao từ tạo thêm, và kinh khủng nhất là các thành ngữ 4 chữ). Vậy nên, mình có chút mưu đồ, “tâm cơ” là đi đường vòng một chút, học thật nhiều chữ Hán và biết chữ Hán, khi đó quay lại nhìn kanji sẽ không thấy sợ nữa và hiểu sâu hơn. Khi học kanji mà nhớ được âm Hán Việt thì có thể đoán được cách đọc từ đó, cũng tương tự như vậy khi biết pinyin của từ tiếng Trung, có thể suy ra gần đúng cách đọc của phần lớn từ tiếng Nhật, và nghĩa thì hầu như là không khác (những từ mang nghĩa khác nhau cũng rất hay ho, qua đó mình cũng thấy được sự khác nhau giữa văn hoá và cách tư duy của Nhật và Trung với cùng một khái niệm/vấn đề, khi nào rảnh nhất định phải ngồi tổng hợp lại mấy cái này).

Chuyện đi thi

Nhân đây cũng xin nhắc lại, mình là một người rất ham hố đi thi (lý do tại sao ở đây), nên khi học chưa được mấy chữ, “chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng” ham hố vác tù và đi thi. Kỳ thi HSK được tổ chức 2 lần ở Việt Nam là tháng 5 và tháng 11. Lúc đó thi tháng 5 thì mới học được chưa đầy 3 tháng, có thi cũng chỉ được cấp 3 (là cùng) và hơi tốn tiền nên mình định tháng 11 thi. Đây cũng là điều mình tương đối hối hận và cảm thấy hơi vô duyên với tiếng Trung ở đây, chính vì trì hoãn việc thi cử nên mình cũng trì hoãn luôn cả việc học khi nghĩ còn cả tá thời gian tới lúc thi (lí do vô cùng quen thuộc). Sau đó là bỏ bẵng luôn, sách vở phủi ra đầy bụi.

Tới tháng 11/2014 mới chợt giật mình là hình như lâu lắm không có học tiếng Trung, vậy nên cũng không có kiến thức đâu mà đi thi cả, nên lại trì hoãn tiếp đến tháng 5/2015, ngoài ra thì lúc này đang ngủ quên trên chiến thắng của tiếng Nhật và 1 thứ khác, nên rất dương dương tự mãn không coi học hành quan trọng nữa (một chuyện rất không nên trong quá trình học ngoại ngữ là giữa đường bỏ ngang). Tới tháng 11/2015 thì chắc chắn phải thi rồi, đây là cơ hội cuối cùng để mình gỡ gạc lại với tiếng Trung trong khi còn ở Việt Nam. Mục tiêu là HSK5 nhưng tới ngày đăng kí lại tiếc tiền sợ thi ngu (và nhát) nên đăng kí HSK4, rồi tới lúc nhận điểm thì tiếc hùi hụi vì điểm cao, biết đâu thi HSK5 cũng đỗ thì sao… Nhưng cái biết đâu đó không bao giờ xác thực được, nên giờ mình vẫn đang ngồi đây và gạo lại bài để quyết tâm chinh phục HSK ;).

Đi thi HSK4 thì cũng nhiều chuyện để kể lắm. Cho tới lúc đi thi HSK4 thì hành trang trong đầu của mình có: 1200 từ HSK4, ngữ pháp 4 quyển Hán ngữ, làm qua khoảng 10 đề đọc nghe, chưa từng có ai kiểm tra viết cho, và thật ra cũng chưa viết cái gì bằng tiếng Trung bao giờ (!) (đọc thêm về việc mình ôn thi HSK4). Hôm đi thi là lần đầu tiên viết được trọn vẹn 1 câu bằng tiếng Trung (trời ơi bao xúc động, câu đó là “thuốc đánh răng hết rồi, mai phải đi mua thôi” hahaa =)) ).

Điều kiện thi ở Hà Nội phải gọi là vô cùng “tuyệt vời” tới mức bây giờ bất kì ai hỏi mình về kì thi đó mình cũng có thể bật ra một ngàn lẻ một lí do củ chuối làm ảnh hưởng đến kết quả thi; tỉ dụ như đúng vào buổi sáng hôm thi thì khoa Pháp (địa điểm tổ chức thi) quyết định bơm nước, và thật may mắn là mình ngồi cạnh đúng cái ống bơm cứ xì xì cả buổi còn to hơn cả tiếng đài; tỉ dụ như làm đề luyện ở nhà tưởng photo nên mới đen trắng, hoá ra lúc đi thi đề cũng chỉ là đen trắng mà thôi (nên phải nhớ đeo kính mà soi mấy câu nhìn tranh…); tỉ dụ như sẽ có mấy cô lao công vừa quét dọn vừa nói chuyện ở một cự li siêu gần ngay lúc bạn đang tập trung làm phần đọc…, hay như các đồng chí xung quanh bắt đầu ngọ ngoạy gian lận… Mình vẫn vô cùng cay cú phần thi nghe hôm đó, vì mình vô cùng tự tin, và nghe cứu mình qua khỏi các kì thi tiếng Nhật, nên cũng tự tin là nó sẽ cứu qua tiếng Tàu, cuối cùng 2 phần kia điểm rõ cao, còn phần nghe thì bị ngu si… 😥

Sau kì thi thì lại lặp lại quá trình trồi sụt trong niềm đam mê tiếng Trung của mình, thi xong rồi thì học làm gì nữa? (ôi trời). Ngoài ra cộng thêm việc mình phải chuẩn bị đi Nhật, rồi sang Nhật thì phải thích nghi với cuộc sống bên này, và cả một số xáo trộn không nhỏ trong các mối quan hệ, (lí do) tâm trạng và thể trạng không ổn định cho phép mình làm nhiều việc một lúc nữa, nên với tất cả nguyên cớ này, việc học tiếng Trung lại bị tạm hoãn (hix).

Hiện tại và tương lai (gần)

(Hồi năm 2016)

Giờ thì mình xem chương trình giải trí tiếng Trung hoặc phim thì nói chung là hiểu, nghe tin tức thì chịu, đôi chỗ vẫn phải tra nhưng nghe và nhìn phụ đề thì hiểu hơn hồi mình mới N2 mà đi xem phim Nhật nhiều, nên hi vọng là trình độ đọc nghe đang ở khoảng ngưỡng trên dưới HSK5. Vấn đề là phát âm và viết vô cùng tệ (do có học đâu) cho dù vẫn có thể nói chuyện bập bõm với người Trung, nên phải tìm cách cải thiện, ngoài ra HSK5 cũng không phải chuyện đơn giản, nhất định cần chiến lược để ôn cẩn thận. Hi vọng trong tương lai gần (năm nay hoặc đầu 2017) có thể kết thúc mối tình nghìn năm với em tiếng Trung bằng HSK6.

(Cập nhật tháng 10.2018)

Kết quả là đến tận bây giờ vẫn chưa thi HSK6 (lầy quá thể T>T). Mình sẽ quyết tâm trong nửa đầu 2019 thi được HSK6. Nhật ký sẽ cập nhật trong thời gian gần ^^

Bảng chữ cái tiếng Nhật

Bốn bảng chữ cái!?

Nhân chuyện này lại nhớ lại phản ứng của rất nhiều người khi biết mình học tiếng Nhật là nói: “Uầy, nghe nói tiếng Nhật khó lắm, có tận 4 bảng chữ cái lận”. Cả hai vế này đều đúng, đúng là tiếng Nhật rất khó (đương nhiên độ khó của một ngôn ngữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, xem thêm ở đây), đúng là có bốn “kiểu chữ” có thể được sử dụng khi viết tiếng Nhật, nhưng mà cái khó của tiếng Nhật không nằm ở việc nó có 4 “bảng chữ”, và cũng không phải là cả 4 “bảng chữ” đều được sử dụng với vai trò như nhau.

“Bốn bảng chữ cái” mà mọi người nhắc đến bao gồm romaji, hiragana, katakana và kanji. Tuy nhiên, romaji không phải là bảng chữ cái, mà chỉ đơn giản là các kí tự la tinh được sử dụng để ghi phiên âm tiếng Nhật, và nhiều khi chính người Nhật cũng không đọc được các ký tự này. Mình đã từng chứng kiến có bác Nhật chỉ viết được chữ A hoa chứ không viết được chữ a thường, thấy các bài báo có chữ ABC mà cũng phải phiên âm katakana lên phía trên,… Đương nhiên, đối với các bạn trẻ tuổi và những người theo học trường lớp cũng như thấy các văn bản tiếng Anh thường xuyên thì không gặp vấn đề với các ký tự la tinh, nhưng họ vẫn không thể hoàn toàn nắm bắt được ý nghĩa một văn bản viết bằng romaji (đọc thêm về romajiđây).

Thực tế khi người Nhật viết tiếng Nhật chỉ sử dụng các kí tự hiragana, katakana và kanji. Kanji không được gọi là bảng chữ cái, mà đây chỉ là các chữ Hán được người Nhật sử dụng để giản lược văn viết (thay vì biểu âm như trước thì dùng để thể hiện nghĩa, đọc thêm về kanjiđây). Một sai lầm thứ hai của người học là kêu kanji khó, và mong muốn tiếng Nhật không còn kanji… (Mình chỉ nghĩ tới đã thấy thảm hoạ rồi, lúc đó có đọc oang oang cả đoạn dài lên cũng không thể hình dung nổi nghĩa, và đúng là học từ nào chỉ biết từ đó thôi. Muốn đọc văn bản nắm nghĩa nhanh nhất định phải dựa vào kanji rồi.)

Sau khi loại trừ một vài “hiểu lầm”, có thể thấy “bảng chữ cái tiếng Nhật” thực sự chỉ bao gồm hiragana và katakana (gọi chung là kana) mà thôi.

Lịch sử bảng kana 仮名

Bảng chữ cái kana là một hệ thống văn tự ký hiệu âm tiết rất quan trọng, mỗi ký tự thể hiện một âm tiết trong tiếng Nhật. Kukai 空海 (cũng được biết đến với hiệu Kobodaishi – 弘法大師), một thiền sư dưới thời Heian, được cho là người có công khởi đầu cho sự phát triển của bộ chữ này. Nguồn gốc sơ khai của bảng kana mà chúng ta sử dụng ngày nay bắt nguồn từ “Vạn diệp tập” 万葉集, là công trình tuyển tập thơ đồ sộ (20 chương) và cổ đại của Nhật Bản. Vào khoảng nửa sau của thế kỷ 6, văn hoá Trung Hoa thâm nhập vào Nhật Bản, các học giả bắt đầu tiếp xúc với chữ Hán. Thuở ban đầu chữ Hán được dạy và học để hiểu các văn bản Trung Quốc, dần dần người Nhật sử dụng chính các chữ Hán này để ghi lại tiếng Nhật trên văn bản. Các chữ Hán được sử dụng trong tập thơ “Vạn diệp tập” (tham khảo hình ảnh ở dưới) thể hiện rất rõ điều này, chữ Hán ở đây được dùng để ghi âm tiết thay vì thể hiện ý nghĩa. Cách sử dụng chữ Hán này do tập quán và thói quen nhưng không có quy định cụ thể, một chữ Hán có thể thể hiện một hoặc nhiều âm tiết hoặc các chữ Hán khác nhau có thể được sử dụng để thể hiện cùng một âm tiết. 

Hiragana 平仮名 gồm 48 ký tự, được sử dụng chính cho phần cuối của từ (được gọi là okurigana – 送り仮名), sử dụng trong các tài liệu cho trẻ em hoặc viết các từ có kanji khó hoặc hiếm thấy. Hiragana còn được sử dụng để ghi phiên âm cho các chữ kanji khó hoặc các từ có cách đọc đặc biệt. Phần phiên âm này được gọi là furigana 振り仮名 (là một phần của ruby ルビ), được viết ở phía trên đối với văn bản thông thường và viết ở bên phải đối với văn bản viết theo chiều dọc). Hiragana được cho là xây dựng từ cách viết Thảo thư của các âm Hán trong bộ manyogana đã nhắc tới ở trên. Đặc điểm của chữ Hiragana là có các đường cong và không gian bao rộng. Thứ tự 5 hàng aあ, iい, uう, eえ, oお được cho là bắt nguồn từ chữ Tất-đàm (Bonji 梵字, một dạng chữ cổ của tiếng Phạn được sử dụng để ghi chép kinh phật). 

Bảng đối chiếu Hiragana và chữ Hán gốc (màu đen: hiragana, màu đỏ: chữ Hán gốc, màu da cam: chữ Hán viết theo lối Thảo thư). Nguồn: http://frytiger.com/archives/790.html

Hiragana còn được gọi là onna de 女手 do ở thời Heian, phụ nữ chỉ được dạy Hiragana và viết ghi chép tất cả đều bằng hệ chữ viết này. Một tác phẩm nổi tiếng được viết hoàn toàn bằng hiragana là Nhật ký Tosa 土佐日記, là hành trình 55 ngày từ Kyoto về Tosa của Tsurayuki 貫之, cũng là tác phẩm văn học đầu tiên dưới dạng nhật ký của Nhật. Ở thời kỳ đầu, một âm tiết có thể được ghi lại bằng nhiều ký tự hiragana khác nhau, nhưng sau này để tránh nhầm lẫn và tiện ghi chép, chính phủ Nhật Bản đã chuẩn hoá hệ chữ này vào năm 1946, thành một âm tiết tương ứng với một ký tự như những gì chúng ta học và sử dụng ngày nay.

Hình ảnh cuốn Nhật ký Tosa. Nguồn: http://kseibo.exblog.jp/14707009/

Katakana 片仮名 cũng gồm 48 ký tự, được sử dụng chủ yếu bởi đàn ông. Đặc điểm của chữ Katakana là gẫy gọn, các nét đều có góc cạnh. Chữ Katakana được xây dựng từ một phần của chữ Hán trong bộ manyogana (tham khảo hình ảnh đối chiếu ở dưới). Chữ Katakana phần lớn được sử dụng để nhấn mạnh, ghi tên riêng nước ngoài, các từ mượn từ các thứ tiếng khác ngoài Trung Quốc, ví dụ như baito バイト (làm thêm) mượn từ tiếng Đức arbeit (công việc, lao động). Ngoài ra, có rất nhiều từ thực ra có thể viết bằng kanji nhưng người Nhật vẫn sử dụng katakana để ghi chép, do cách sử dụng kanji dùng các chữ Hán khó hoặc không thường dùng, gây lẫn lộn và khó khăn trong đọc và viết, ví dụ như tên măng tây asparagus アスパラガス có thể được viết là 竜髭菜, hay tên các quốc gia ví dụ như Pháp フランス có thể được viết là 仏蘭西.

Bảng đối chiếu Katakana và chữ Hán gốc (màu đen: katakana, màu xanh: chữ Hán gốc, phần khoanh đỏ là phần được lấy ra để tạo chữ). Nguồn: http://frytiger.com/archives/797.html

Tuy nhiên, 48 âm tiết trong bảng Katakana không đủ để ghi lại các âm của tiếng nước ngoài. Một ví dụ rất đơn giản có thể thấy là Việt Nam khi phiên âm sang tiếng Nhật sẽ biến thành betonamu ベトナム do người Nhật không có âm v, và bản thân người Nhật cũng gặp khó khăn khi phát âm âm này. Tương tự với chữ v của tiếng Việt thì âm xát môi kêu (voiced labiodental fricative 有声唇歯摩擦音) còn có v của tiếng Anh, w của tiếng Đức và f của tiếng Tây Ban Nha khi du nhập vào nhật đều biến thành âm b. Gần đây người Nhật bắt đầu sử dụng ヴ để ký hiệu cho âm này thay vì chuyển sang âm b như trước đây, sử dụng đầu tiên bởi Fukuzawa Yuikichi trong Tuyển tập Fukuzawa 福澤全集緒言. Tuy nhiên các chữ vẫn thông dụng từ trước, ví dụ như betonamu ベトナム (Việt Nam) hay intabyuu インタビュー (interview – phỏng vấn), thì không thay đổi. Nhắc tới ví dụ này để có thể thấy tuy vấp phải nhiều phản đối (ví dụ như có thật sự cần thiết phải thêm âm v hay không, v.v…) nhưng tiếng Nhật vẫn không ngừng đổi mới không ngừng chuẩn hoá. 

Bắt đầu học tiếng Nhật

Việc học tiếng Nhật một cách nghiêm túc trước hết phải bắt đầu từ bảng chữ này. Đương nhiên để tiếp xúc và làm quen với ngôn ngữ thì mỗi người có nhiều cách khác nhau, như xem phim nghe nhạc,… Người Việt mình khi học tiếng Nhật không mắc phải sai lầm này, nhưng có rất nhiều bạn Tây học tiếng Nhật tới giao tiếp căn bản được rồi nhưng vẫn không biết viết kana, dẫn đến rất khó có thể tiếp tục học lên cao hơn, giống như xây nhà mà bắc cái thang đó rồi đắp luôn mái xong xây tầng 2 đó, không có căn bản sao xây được cao. Thông thường thì bảng chữ này chỉ tốn khoảng một hoặc hai tuần nếu chăm chỉ cần mẫn mỗi ngày tầm 30p, nếu tập trung thì chắc một buổi cũng xong, rồi một buổi ôn tập là có thể tự tin đi đánh vần truyện tranh rồi (truyện tranh ở Nhật tất cả các kanji đều có ghi kèm phiên âm hiragana ở cạnh – gọi là furigana). À còn một sai lầm nữa là, cũng có nhiều người hỏi mình “mới học tiếng Nhật thì chọn học bảng chữ nào là thông dụng nhất?”… Hoàn toàn không giống phồn thể giản thể của tiếng Trung, muốn học tiếng Nhật thì phải bắt đầu với cả hai bảng chữ, hiragana được sử dụng nhiều hơn nhưng không có nghĩa là có thể bỏ qua katakana, cả hai đều được sử dụng rất thông dụng và đều cần thiết như nhau. 

Tổng hợp Giáo trình Hán ngữ – Quyển 5

Tổng hợp cụm từ cần lưu ý trong Giáo trình Hán ngữ – Quyển 5

Bài 1
说实话:nói thật ra thì…
一下子:trạng từ chỉ hành động, sự việc xảy ra nhanh. 几年不见,他一下子长这么高了。
终于:cuối cùng (thì cũng…)
一切:tất cả, thường dùng với 都. 这里的一切对我来说,都是那么有趣.
如果:nếu
果然:quả nhiên (sự việc diễn ra đúng như dự đoán)
只好:chỉ còn cách … (mới tốt)
对于:về, đối với (tiếng Anh là with regards to)
:và/nhưng (nối 2 câu, cụm)

Bài 2
:dựa vào, nhờ vào
:các/mọi (nhắc đến tất cả mọi người/mọi thứ thuộc thuộc về một bộ phận phân loại nhất định) 每天都有全国各地的游泳者来这里参加。
各 nhắc đến tất cả với ý nghĩa là các cá nhân đều giống nhau, có thể dùng trước danh từ, nhưng chỉ dùng với một số từ đếm nhất định, và không dùng với số đếm.
每 nhắc đến “tất cả” đều như nhau, phải dùng với từ đếm hoặc số đếm (trừ 人,家,月,日,星期,周)
表示:biểu thị, thể hiện, tức là, có ý. 朋友们知道我考了第一名,都向我表示祝贺。点头表示同意。你说了以后,他有什么表示?
又…又…:vừa… vừa… (thể hiện các hành động liên tiếp, nối nhau)
分别:phân biệt, khác nhau, riêng (liên quan đến các hành động khác nhau, hoặc các chủ thể khác nhau, có thể dùng như danh từ hoặc động từ). 对不同情况,应该分别对待

Bài 3
拿+名词+来+动词:lấy… để làm gì đó… (giới thiệu một chủ đề mới), chỉ dùng với các động từ 说,看,讲,比,比较,分析. 那人民生活水平来说,提高还是很快的。
动词+下:… xuống, xong (thể hiện hành động đã hoàn thành, ám chỉ “bỏ xuống” hoặc một hành động từ cao xuống thấp). 脱下冬衣。我们从这里走下山去吧。
动词+上:… thành, tới, lên (thể hiện hành động có kết quả, ám chỉ “nhập lại” hoặc một hành động từ thấp lên cao).一到春天,人们都投下冬衣,换上春装。她今年终于考上了大学。
多么:biết bao, bao nhiêu là… (cảm thán lượng nhiều).多么好意思啊!
也许:có thể (thể hiện ý đối lập hoặc không chắc chắn). 去了以后,也许你会爱上这个美丽的城市。

Bài 4
一点儿+也+不/没:một chút/một ít… cũng không… (phủ định hoàn toàn).   一点儿也不了解你的意思。
不过:nhưng, cùng nghĩa với 但是 nhưng hay được dùng trong văn nói hơn
简直:nói một cách đơn giản thì…, dùng để thể hiện ý cường điệu
当然:đương nhiên, có thể dùng độc lập hoặc trả lời cho câu hỏi
:từ…, thường mang nghĩa điều gì đó không thay đổi, dùng trong câu phủ định. 我以前从没来过日本,这是第一次。
动+着+动+着:đang… thì (bị một hành động khác xen vào). 他说着说着突然笑了起来。

Bài 5
再说: sau này bàn tiếp sau, có thể dùng như một lời từ chối lịch sự. 这件事以后再说吧。
其实:thật ra
实在:thật, thật sự
用得着:cần thiết, phải, trái nghĩa 用不着:không cần, không phải. 有什么意见你就好好说,用不着生这么大气。
至于:nói đến chuyện…, dùng để thay đổi chủ đề, đưa ra đề tài mới

Bài 6
半…不…:nửa… nửa (không)… 半懂不懂
一脸的警惕:toàn là
不料: thật bất ngờ, ngoài dự đoán
一+动词: vừa mới… , đã… 他一说,我们都笑了
竟然:thực tế, thật ra (ngoài tưởng tượng), hoá ra lại là 没想到这次考试题竟然这么简单
只是:chỉ là 我只是问问你,没有别的意思
并:dùng trước gì đó để diễn tả phủ định toàn bộ, hoàn toàn không/chẳng… chút nào. 你说他笨,其实他并不笨
一… 一… thể hiện sự tiếp tục, hoặc toàn bộ: 一问一答,一心一意

Bài 7
动词+下去: sự tiếp nối của hành động… (làm gì đó) tiếp : 请听他说不去
根本:căn bản: về cơ bản thì… (hoàn toàn không)… 今天的会根本没通知我
对…入迷: bị… mê hoặc, làm hấp dẫn: 优美的音乐让人听得入迷
偷偷:một cách bí mật, lén lút, không ai biết: 他看大家不注意,就偷偷离开了
为了:为了演好这个节目,他们常常练到很晚
不管:bất kể 不管做什么事,她都非常认真
其中:trong số đó: 中国有很多河,长江是其中最长的一条
既然:một khi đã, kể từ khi 既然病了,就会宿舍休息吧

Bài 8
任何:bất kì 做任何事情都不可能随随便便成功
尽量:tận tâm, tận lượng, hết sức: 你放心吧,只要我能做到的,我会尽量帮忙
立刻:lập tức: 吃了早饭我就立刻去机场接她, nhanh hơn 马上
一连:liền, liên tục: 一连下了两天雨,路上到处都是水
仍然:thế mà lại vẫn còn… (đồng nghĩa với: 还)diễn tả trạng thái không đổi 昨天有雨,今天仍然有雨

Bài 9
曾经:đã từng (từ khoảng thời gian xa và đã kết thúc, khác với 已经 là việc đã xảy ra tương đối gần đây và có thể vẫn còn tiếp tục) 曾经度过一个让我看懂的故事
到底:rút cục/cuối cùng đã… được (khác với 终于 là có thể sử dụng được trong câu hỏi, bắt buộc phải kèm theo了. 问题到底解决了/他到底来不来?
算:tính là/coi như 这几天不算太冷
原来:chỉ những thứ quá khứ, lúc đầu (với ngụ ý bây giờ đã thay đổi), hoặc thể hiện sự phát hiện một cách đột ngột ra rằng sự việc không phải như vẫn nghĩ 这几天他都没来上课,原来他病了
装:giả bộ như
对…来说: về việc… mà nói…

Bài 10
不把…放在眼里:không để… vào mắt, mang ý khinh thường, không coi trọng
:dùng thay cho các động từ 做,干,办, mang nghĩa làm,… cụ thể thay đổi theo câu
:nghĩa là làm,… cụ thể thay đổi theo câu, dùng với 了,着,过
甚至:thậm chí
以后:sau này, có thể chỉ tương lai, hoặc sự việc ở hiện tại còn kéo dài được đến tương lai (以来 chỉ sử dụng để nói tương lai)
:nhưng, dùng trước động từ để thể hiện sự thay đổi về sắc thái ngữ nghĩa. 虽然也有点儿想家,但是我却不感到寂寞
偶然:tình cờ, ngẫu nhiên, không phải là không thể tránh khỏi 我偶然想起了他

Bài 11
大约:xấp xỉ
不约而同:không hẹn mà cùng…, chỉ hai người làm hoặc nghĩ giống nhau cho dù không nói trước. 我们不约而同地说:“同意”。
只见:chỉ thấy…, không có chủ ngữ
无奈:không có sự lựa chọn, bắt buộc phải, cũng có thể dùng để nối câu với ý nghĩa ý định ở vế 1 có thể sẽ không thực hiện được (do vế 2)
十分:rất, hoàn toàn, không thể dùng 十分十分 nhưng có thể dùng 不十分 chỉ mức độ thấp.
形容词+下去:vẫn cứ… mãi, chỉ trạng thái hiện tại vẫn tiếp tục với mức độ cao hơn, và nhấn mạnh vào sự tăng cấp trạng thái này. 天气要是这么冷下去,我可受不了了

Bài 12
好不+形容词:không thể không…, rất/quá…
尽管:cho dù, tự nhiên/không cần khách khí. 尽管我已经长大了,可是在妈妈眼里,我还是个少孩子。有什么话尽管说吧,别不好意思。
难免:không thể tránh khỏi, dùng trước động từ, và thường theo sau bởi 要,会. 即使朋友之间也难免看法不同。
恐怕:chỉ sợ…, dùng để đánh giá tình hình và bộc lộ sự lo lắng về tình huống xấu có thể sẽ xảy ra. 我们快走吧,恐怕要下雨。
免得:không thì (or else), dùng ở vế 2 với ý nếu làm được vế 1 thì sẽ tránh được điều không mong muốn xảy ra (như được viết ở vế 2). 我病的事你最好不要告诉他,免得他担心。
以为:vốn nghĩ là…, dùng khi phát hiện suy nghĩ trước của bản thân là sai. 都十二点了,我以为还是不到十点呢。
:bổ ngữ sau một số động từ, đến (làm gì đó). 我来帮你拿

Bài 13
总之:sau tất cả, tổng kết lại, suy cho cùng. 听力,口语,阅读,写作,总之那门功课都很重要,都的学好。
总得:đều phải, cũng phải, thể hiện sự cần thiết và bắt buộc. 不能去上课,总是告诉老师一声
:đủ, quá, dùng trước tính từ và kết câu hay đi cùng với 的,了,的了. 今年夏天天气够热的。
哪怕:cho dù… cũng sẽ (không thay đổi), dùng với 也,都,还
:dám… (có dũng khí để làm gì đó), dùng trước động từ hoặc dùng một mình trong câu hỏi, phủ định là 不敢,没敢
好在:vừa vặn, thích hợp 房间不太大,好在只我一个人住
为难:làm khó (tự đặt mình hoặc ai đó vào thế khó) 我真的不会唱歌,你就别为难我了
反而: thế mà lại (trái ngược hoàn toàn với những gì vừa nói, ngược với tiếp diễn tự nhiên) 他离这儿最远,反而来得最早
一…就是…:vừa… thì sẽ làm gì đó mãi 我在电脑前一坐就是一上午 

Chuyện trang điểm ở Nhật

Con gái Nhật vốn được nhắc đến rất nhiều cùng với mấy tính từ như kiểu là dễ thương, đáng yêu, xinh đẹp. Diễn viên nữ Nhật, rồi thần tượng Nhật đều rất xinh, mỗi người theo một kiểu rất riêng. Hồi trước ở nhà mình hay xem phim rồi coi chương trình giải trí của Nhật, đã thấy rất nhiều bạn/chị/em xinh đẹp rồi, tới lúc qua đến Nhật mới thấy ngoài đường còn nhiều bạn xinh đẹp lại ăn mặc phong cách hơn rất nhiều (T.T). Ở Nhật có mấy phố thời trang thời thượng kiểu Shibuya hay Harajuku, ra dó ngó đông ngó tây vài phút cũng thấy được cả tá bạn xinh đẹp…

Mình cũng nhận ra một điều nữa, là các bạn Nhật xinh đẹp một phần là do đẹp sẵn thôi, còn phần đa là do các bạn cố gắng rất nhiều nữa. Con gái ở đây luôn để ý đến cách người khác nhìn mình, luôn cố gắng để làm bản thân đẹp hơn. Tỉ dụ như là chuyện giảm béo này, cũng như Việt Nam, bên này coi càng gầy là càng xinh đẹp. Mình không nói là béo xấu hay sao, nhưng mình cũng thích gầy, và những bạn xung quanh mình mà thích gầy cũng đều đã từng hoặc đang quyết tâm để giữ cân. Các quán ăn, từ quán thường tới tiệm ăn nhanh rồi hàng kem, đồ ngọt đều ghi số calo trên thực đơn, rồi vào mấy cửa hàng thuốc đầy các loại thuốc giảm cân, tiêu mỡ, rồi đồ bó bụng bó chân… Chương trình tivi cũng đủ thể loại dạy tập luyện thể dục thể thao, các động tác đơn giản để cả dân văn phòng cũng có thể thực hiện…

Chuyện các bạn Nhật để ý đến vẻ ngoài này không chỉ là nhận xét của bản thân mình. Ở trường mình có chơi với một bạn người Trung Quốc mà du học ở Mỹ cũng lâu rồi, có lần bạn vừa cười vừa nói với mình lý do chính tới Nhật học là do muốn học cách yêu bản thân mình hơn một chút, hồi ở Mỹ chỉ mặc áo phông quần bò giày thể thao rồi mặt mộc các kiểu. Bạn đó qua Nhật rồi. Không phải cổ suý cho các loại chuẩn mực con gái phải dịu dàng phải mặc váy phải trang điểm phải thế này thế khác, nhưng học cách quan tâm đến bản thân mình hơn một chút cũng tốt chứ.

Ra đường ở Tokyo chắc rất khó để tìm thấy bạn nữ nào không trang điểm. Bất kỳ lúc nào ra đường cũng vậy, từ sáng sớm tới tối mịt, không ít thì nhiều không đậm thì nhạt, ai cũng trang điểm. Tới mức hồi đầu mình qua đây thấy mọi người cứ nhìn nhìn, tưởng mặt làm sao, mà hoá ra về sau mới biết đúng là mặt làm sao thật, mặt mộc quá doạ người làm giảm điểm xinh đẹp trung bình của cả khu phố (haha). Đồ trang điểm cũng phổ biến, bán khắp mọi nơi từ hàng thuốc tới cửa hàng tiện lợi, rồi đương nhiên là đủ hang trong các trung tâm thương mại, giá cả từ siêu rẻ tới siêu mắc, đủ chủng loại mẫu mã, kèm hướng dẫn xài nữa chứ. Các trường cấp 2 cấp 3 bên này đa phần đều cấm các em học sinh trang điểm đi học, nhưng mà các em ấy vẫn rất “siêu phàm”, nào là trang điểm siêu nhẹ để tránh thanh tra học đường, nào là trang điểm trong vòng 5 phút ngay sau khi ra khỏi cổng trường để chuẩn bị đi chơi. Chỉ cần một lần nhìn thấy động tác trang điểm siêu tốc hay là các hộp phấn đã dùng nhiều tới nhìn thấy đáy của các bạn Nhật bên này mới có thể thấm thía được các bạn ấy trang điểm nhiều như thế nào.

Trang điểm nhiều cũng không có gì là không tốt cả, nhất là khi nó đã trở thành thói quen của người Nhật. Hồi ở Việt Nam mình đã rất sốc khi thầy dạy tiếng Nhật của mình tỉa và vẽ lông mày hàng sáng (một cảnh tượng quá đẹp không dám nghĩ lại luôn…). (Lại) qua tới đây rồi mới nhận thấy chuyện ấy cũng không phải là lạ, các bạn đẹp trai vẫn lượn ra lượn vô mấy quầy mỹ phẩm để mua như thường, và thậm chí còn chịu chi hơn phái nữ nữa chứ. Trước có một cô Nhật mình dạy thêm, cũng hỏi mình rất ngạc nhiên là sao mình không trang điểm, ở Nhật như vậy là thất lễ với người đối diện (ơ…). Cô cũng kể là nhiều người như cô, ở nhà với chồng cũng phải trang điểm cẩn thận, lúc nào cũng phải cho chồng thấy mặt đẹp nhất của mình. Nghe thật là mệt mỏi.

Có câu nói “nhập gia tuỳ tục”, từ hồi qua đây không hiểu chính xác từ lúc nào mình cũng học thói quen trang điểm. Hồi ở Việt Nam chỉ khi dịp gì đặc biệt, hoặc đi cosplay chụp ảnh, hoặc bỗng dung rảnh thì mới lôi đồ ra bôi bôi quẹt quẹt, nhưng tới khi sang đây rồi nó thành thói quen hàng ngày. Ngày xưa mặt kinh dị mỗi lần trang điểm thấy đỡ doạ người hơn được xíu, cũng vui vui, giờ thì ngược lại, ngày nào mặt cũng trang điểm tới lúc tẩy trang thì tá hoả không nhận ra mình trong gương (ha ha…).

Hội chợ đồ cũ ở Nhật Ảnh hong liên quan gì cả, thích thì chèn thôi :”>

Thôi thì tự nhủ học cách chăm sóc mình tốt hơn, không xinh đẹp hơn ai không so sánh với ai được thì trở thành phiên bản đẹp nhất của bản thân cũng được vậy. Yêu bản thân nhiều hơn một chút, tập thay đổi cũng là một điều hay.

//Xin được kết thúc bài viết bằng 9 cách phản ứng khác nhau của các anh trai Nhật khi gặp bạn gái mặt mộc (nghe đồn đây là một dịp rất đặc biệt, hoặc rất yêu nhau hoặc muốn thử thách thì ảnh mới được ngắm mặt mộc của em, có nhiều đồng chí yêu nhau lâu lâu rồi thấy mặt mộc liền chia tay đó=)) )

1.誰ですか? Ai đấy?
2.肌の綺麗さをチェック Kiểm tra da =))
3.化粧している時より可愛い Em đáng yêu hơn cả lúc trang điểm ~
4.化粧って凄い Trang điểm hịn ghê :>
5.子どもが生まれたら大変だ Thế này đẻ con chắc đắng lắm ._.
6.何も変わらない Em hông khác gì cả ~
7.騙された Tao bị lừa rồi!!! =))
8.現実なんてこんなものか Hoá ra sự thật là đây .v.
9.すっぴんが見れて嬉しい Được thấy em một cách tự nhiên (mặt mộc) thế này anh rất vui ~
Nguồn: http://blair.jp/160710-kanojyo-suppin#6

Sự thật chắc mấy câu kiểu 1 và 5 nhiều ha ~ Để cho cuộc đời thêm tươi đẹp, xin kết bài lần 2 bằng 9 câu mà nam giới nên nói khi lần đầu tiên thấy bạn gái mình không trang điểm ~

1.すっぴんもカワイイじゃん!Không trang điểm cũng đáng yêu thế này cơ mà!
2.僕はすっぴんも好きだよ。Anh cũng thích em không trang điểm thế này nữa
3.少し印象が変わったけど、すっぴんも素敵(すてき)だね。Ấn tượng hơi khác chút, nhưng mà em thế này cũng hay đó ~
4.俺はすっぴんの方がカワイイと思うよ。Anh thấy em không trang điểm đáng yêu hơn à~ Nhưng cẩn thận ẻm sẽ hiểu nhầm là đang chê êm trang điểm xấu =)
5.すっぴんでも変わらないね。Em không trang điểm cũng chẳng khác gì nhỉ = Lại cẩn thận tập 2 ẻm sẽ hiểu nhầm ý anh là tui trang điểm hay không cũng chả có nghĩa lí gì sất hử…
6.化粧を取ると幼いね。Tẩy trang đi nhìn em trẻ con hẳn ha ~
7.肌がキレイだねー Da đẹp ghê
8.すっぴんを見せてくれて、嬉しいよ。ありがとう!Được thấy em một cách tự nhiên (mặt mộc) thế này anh rất vui, cảm ơn em!
9. だれ?(笑)失礼ですが、どちら様でしょうか?(笑)Ai vậy (cười) Thất lễ chút, xin được hỏi vị này là vị nào ạ? (cười). Nhớ là phải cười đó nha
Nguồn: https://nanapi.com/ja/598

はっぴ~

Cùng anh ngắm hoa sơn tra – Ngải Mễ

Thông tin chung

Tên tác phẩm: Cùng anh ngắm hoa sơn tra 山楂树之恋

Tên tác giả: Ngải Mễ 艾米

Độ dài/tình trạng xuất bản: 47 chương – đã hết

Năm: 2012

Một vài đường dẫn quan trọng: Truyện tiếng Trung 

Bìa truyện bản tiếng Trung

Giới thiệu nhân vật

Thu là con gái của một gia đình mà bố mẹ đều bị đấu tố trong cách mạng văn hoá, (Đại Cách mạng văn hoá giai cấp vô sản 无产阶级文化大革命 kéo dài từ năm 1966 tới 1976 dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông nhằm loại bỏ các phần tử “tiểu tư sản” gây ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia (địa chủ, phú nông, phần tử phản cách mạng, phần tử xấu, phái hữu)). Ở cái thời đó, họ ganh đua với nhau xem ai cách mạng hơn, ai yêu nước hơn, nếu không đánh đập chỉ điểm người khác thì bị coi là thuộc phái hữu, phản cách mạng.

Nếu không chỉ điểm người khác, đấu tố tích cực thì biết đâu một ngày mai chính mình cũng sẽ bị đem ra đấu tố. Bản thân Thu hồi nhỏ khi chơi với bạn bè cũng nhại lại các cuộc đấu tố, khi mà ở đó người ta mắng chửi nhau chỉ vì tích trữ lương thực, là vì dùng lời lẽ không đúng mực khi nói về chủ tịch Mao Trạch Đông, là vì đi ăn hàng, là “mang tư tưởng tiểu tư sản”. Tới khi chính mẹ Thu cũng bị lôi ra đấu tố, rồi bị bạn bè xa lánh, Thu mới ngấm được chuyện mình khác mọi người là như thế nào. Thu thấm thía được mình không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được, không những nghèo mà còn không có tương lai, một khi đã về nông thôn là không thể về lại thành phố, làm chuyện gì đến đoạn thẩm tra tư cách đều không thể qua được. Người như Thu không biết là đáng thương hay đáng trách. Thu đã được dạy đào tạo từ nhỏ tư tưởng của chủ tịch Mao là đúng, người xuất thân hèn kém như Thu cả đời cũng không thể thay đổi số phận được. Thu luôn cố gắng làm tất cả, làm công như nam giới, cật lực gánh cát, không ngại khó khăn làm đêm vất vả để kiếm một đồng hai hào mỗi ngày giúp đỡ đần phần nào gánh nặng trong nhà.

Cây sơn tra (minh hoạ) Nơi Thu và Ba gặp nhau lần đầu Source: http://treepicturesonline.com/red-hawthorn.jpg

Thu không dám mơ tới những điều cao sang, khi Tân nói cứ vay rồi sẽ có tiền trả, Thu đã rất thực tế nhắc đến tương lai ở nông thôn của mình, chỉ cần không nợ không tạo gánh nặng cho mẹ là may rồi chứ nói chi đến chuyện trả nợ nữa. Ở trường mình cũng đã từng nói chuyện với mấy bạn Trung Quốc, từ nhỏ đã được dạy là ghét Nhật, cũng như người Việt Nam mình từ nhỏ đã được tiêm vào đầu cái tư tưởng ghét Tàu rồi vậy.

Trong lúc mông muội thơ bé thì năng lực phán đoán và lập trường còn chưa vững vàng, đương nhiên phần đa sẽ tiếp nhận hoàn toàn các thông tin thu thập được và coi nó là chuẩn mực. Đến khi lớn lên, nếu có khả năng tiếp cận tri thức mới và nảy sinh xung đột thì một người mới có thể tự nhận thức và phán đoán đưa ra lựa chọn về cách hiểu của bản thân. Thế nhưng, đối với những người như Thu, từ nhỏ đến lớn đều chỉ tiếp xúc với một chiều một luồng văn hoá, thì biết phải thay đổi thế nào? Thu được dạy như thế, thấm nhuần tư tưởng, nên mọi điều Thu suy đoán đều theo hướng ấy, rằng tất cả những điều yêu thương lãng mạn đều chỉ là “tư tưởng tiểu tư sản”.

“Không phải bịa, mà là thi vị hoá. Thế giới tồn tại khách quan, nhưng mỗi người cảm nhận thế giới một khác, con mắt nhà thơ nhìn thế giới sẽ thấy một thế giới khác.” – Ba là một người nói chuyện đầy tính “văn học” như vậy đấy. Thu nhận nhiệm vụ về thôn thu thập tư liệu để xây dựng sách giáo khoa, rồi gặp Ba đang chơi nhạc ở dưới gốc cây sơn tra, và “Cùng anh ngắm hoa sơn tra” là chuyện tình rất đẹp rất nên thơ giữa hai người ấy…

Vài suy nghĩ

Khi đọc truyện đã có nhiều đoạn mình đã nghĩ nam chính là Lâm (con trai gia đình Thu ở nhờ) chứ không phải Ba. Lâm là một chàng trai hiền lành chân chất, không rõ Lâm có yêu Thu hay chỉ đơn giản là có cảm tình và muốn bảo vệ cô gái bé nhỏ ấy, nhưng những hành động của Lâm hoàn toàn có thể làm bất cứ ai rơi lệ. Người ta có lẽ chỉ nhớ Tân luôn giúp Thu, kiếm đường phèn rồi dõi theo Thu, lo lắng Thu đi làm vất vả, nhưng đâu nhớ chính lần đầu đi kiếm hồ đào cho mẹ Thu chính là Lâm. Lâm không nghĩ được nhiều như Tân, không nói ngọt được như Ba, chỉ đơn giản là thấy Thu cần nên đi bộ xa tới rách giày để mang về sớm cho Thu thôi.

Thật sự chẳng qua Thu không cho Lâm một cơ hội nào cả, tất cả những gì Thu có thể đáp lại, cho dù là đan áo hay là khâu giày đều chỉ là hàm ơn mà thôi. Đọc tới những đoạn Thu nghĩ về Lâm, đắn đo so sánh Lâm với Ba, mình đã những tưởng truyện sẽ đi theo hướng rất thực tế là để hai người đến với nhau, nhưng kết cục vẫn là một mối tình đẹp về một cô gái vì ấn tượng với tiếng đàn mà rơi vào lưới tình mà không thoát ra được. Lựa chọn của Thu, lựa chọn của tác giả để cô gái ấy được thả mình trong chuyện tình lãng mạn ấy thôi, cũng hay.

怎么能用心去爱一个人?

Phải làm thế nào mới có thể dốc lòng yêu một người? Đây là câu nói vang lên trong đầu mình liên tục mỗi khi lật giở truyện, cũng như mỗi lần nghĩ lại về các tình huống trong truyện hay chính lúc này đang ngồi viết cảm nhận đây, cũng vậy. Có thể người ta rất dễ dàng để nhận ra, mình có cảm tình với ai, ai là người ánh mắt mình luôn kiếm tìm trong đám đông, ai là người mình luôn muốn nói chuyện hàng ngày không dứt, ai là người mình yêu từ tận đáy lòng, nhưng có lẽ, có dùng cả đời cũng không thể nắm được làm thế nào mới tốt cho người mình yêu, làm thế nào để yêu người ấy. Tác giả Ngải Mễ dường như dẫn người đọc suy ngẫm lại về câu hỏi này với “Cùng anh ngắm hoa sơn tra”. Tình yêu trong truyện quả thực rất đẹp, đẹp vì rất giản đơn rất thuần khiết.

Thu trong sáng lắm, và tình yêu của Thu cũng trong sáng chân thật hơn bất kỳ ai. Thu không biết yêu nhau người ta phải làm gì, tới lúc Tân ôm hôn Thu cũng không hiểu, chỉ thấy trong lòng khác lạ, nhưng Thu biết hờn ghen khi người ta nhắc đến vợ chưa cưới của Tân, biết nhớ Tân, biết đau lòng thay cho Tân. Chỉ là, cách suy nghĩ của Thu ngây ngô như một đứa trẻ mà thôi. Có lần, vì phải về nhà sớm mà Thu để Tân lại ngoài tìm chỗ ngủ, lại lo anh không tìm được chỗ mà chết rét. Những tưởng chỉ suy nghĩ đến vậy, Thu nghĩ cả đêm, nếu Tân chết thì mình chết theo, vậy là ở bên nhau mà không dị nghị, rồi nhớ tới mẹ già em nhỏ, lại nghĩ mình phụng dưỡng xong rồi sẽ chết theo là ổn. Không dừng ở đó, mấy hôm Thu còn đi hỏi thăm trạm xá xem có ai bị chết rét không, rồi bồn chồn không biết nên biên thư về chỗ Tân hỏi thăm hay không, không hỏi thì nóng ruột mà hỏi rồi thì lại sợ lộ tình cảm của hai người.

Cứ như vậy tình cảm của cả hai lớn dần lớn dần, hành động theo tiếng gọi của trái tim. Vì nhớ mà muốn gặp, chứ không phải gặp nhau để thể hiện nỗi nhớ. Lại nghĩ bây giờ các phương tiện liên lạc sẵn có, để mặc định yêu nhau là phải nhắn tin phải hỏi thăm phải thế này thế khác, chứ không còn là vì nhớ nhau nên muốn gặp nhau, không gặp được nhau nên đành nhắn tin… Phải chăng tình yêu cũng vì thế mà hời hợt hơn rất nhiều?…

Nhớ nhất về tình yêu của hai người chắc là chi tiết Thu chuẩn bị thú nhận với anh về tình yêu của mình. Lúc ấy Thu nhớ đến tình tiết trong “Tây Du Ký”, Tôn Ngộ Không tránh không nói tên vì tên yêu quái bốn thầy trò phải đối mặt có một chiếc bình mà chỉ cần gọi tên sẽ bị hút vào trong đó và tan thành nước. Thu sợ chỉ cần thổ lộ với anh rồi sẽ đắm chìm trong tình yêu ấy mà không thoát ra được mất.

Một chuyện tình thật đẹp, thật giản đơn mà cũng thật sâu đậm.

Tới tận những dòng cuối cùng.

Kết

Tác giả Ngải Mễ kết câu chuyện bằng đôi lời của chính nhân vật “Thu” của đời thực. Một câu chuyện rất đẹp vì quá gần mà cũng quá xa, xa với thời đại và nơi mình đang sống, xa cả về thời gian và không gian nhưng sao cảm giác thực vô cùng, và cũng buồn vô tận……….

“Thế giới khách quan chỉ có một, nhưng thế giới chủ quan trong lòng mỗi người, hoặc nói, thế giới khách quan phản ánh trong lòng mỗi người, lại vô cùng khác nhau”.

Đánh giá tổng thể: 8.0/10.0⭐️.

Cách xoay rubik cơ bản

Rubik

Cục Rubik là một trò giải đố được kiến trúc sư Hungary Ernő Rubik năm 1974. Không biết viết gì nữa nên trích tạm một câu nói của ông :)).

“If you are curious, you’ll find the puzzles around you. If you are determined, you will solve them. ” Erno Rubik

Quy tắc xoay rubik cơ bản

Có hai cách xếp chính là cạnh-đỉnh và theo tầng

Xếp chữ thập ở một mặt72 giây.
Xếp đỉnh và cạnh của một mặt tương ứng như hình4 x 74 x 2 giây.
Xếp cùng lúc định hướng cạnh và đỉnh đề tầng cuối cùng có đủ màu (1 trong 40 công thức)93 giây.
Xếp 8 viên còn lại của tầng cuối (1 trong 13 công thức)124 giây.
Tổng5617

(Nguồn: http://www.ws.binghamton.edu/fridrich/system.html)

Trang web rubik hay

Speedcubing : trang web tổng hợp thông tin về kỷ lục, các giải đấu, v.v.. tiếc là chỉ cập nhật đến năm 2012

World Cube Association : trang thông tin chính về các giải đấu, các kỷ lục qua các năm. Giải đấu tiếp theo sẽ là ở Pháp vào tháng 7 năm 2017.

Jessica Fridrich : (từ hồi biết xoay rubik đã nghe tên Fridrich rồi mà giờ mới biết đây là một giáo sư nữ, quá giỏi…). Lúc nào rảnh chắc sẽ ráng ngồi viết một bài rõ hơn.

Cubefreak : trang tổng hợp thông tin đầy đủ về cách xoay, con đường đi từ chưa biết gì tới sub-10s.

Quá trình luyện “from zero to sub-10s”

Hay làm thế nào để giải rubik dưới 10 giây.

(Nguồn: http://cubefreak.net/speed/articles/howtolearn.php)

Bước 0: Chuẩn bị

Nắm bắt các mặt của rubik, các hướng xoay và kí hiệu xoay (như hình dưới). Một vài ký hiệu đặc biệt khác: w là xoay 2 tầng, r là xoay 1 vòng theo chiều của R,…

Bước 1: Giải theo từng tầng

Học phương pháp giải theo từng tầng. Ngoài ra có thể luyện thêm kỹ năng của các ngón tay (fingertrick) ở đây (người hướng dẫn là Alexander Lau đang đứng thứ 3 thế giới về xoay rubik với kết quả ở WCA là 5.96 giây với cục 3x3x3).
Số công thức cần học: 11 (4 cho tầng cuối, 7 ngắn và tương đối đơn giản)
Số lần xoay: ~110
Tốc độ có thể đạt được: ~35 giây
Mục tiêu để có thể chuyển đến bước tiếp theo: 60 giây = ~ 2 lần xoay/giây (tps – turns per second)

Bước 2: OLL và PLL 

Học một số công thức để cải thiện tầng cuối cùng.
Số công thức cần học: 16 tầng cuối (3 chuyển cạnh, 7 chuyển góc, 2 hoán vị góc, 4 hoán vị cạnh)
Số lần xoay: ~85
Tốc độ có thể đạt được: ~25 giây
Mục tiêu để có thể chuyển đến bước tiếp theo: 40 giây = ~ 2 lần xoay/giây (tps – turns per second)

Bước 3: Fridrich cho người lười

3a: 3-LLL: kết hợp PLL hai bước với tất cả các công thức PLL (31 công thức, có 10 công thức cũ từ bước 2 và 15 công thức mới)
3b: F2L tiêu chuẩn: để xoay được 2 tầng đầu (41 công thức, đa phần ngắn)
Số lần xoay: ~63
Tốc độ có thể đạt được: ~15 giây
Mục tiêu để có thể chuyển đến bước tiếp theo: 25 giây = ~ 2,5 lần xoay/giây (tps – turns per second)

Bước 4: Fridrich đầy đủ

Học toàn bộ OLL.
Số công thức cần học: 78 công thức cuối (47 công thức hướng mới)
Số lần xoay: ~56
Tốc độ có thể đạt được: <10 giây

Nhật ký mới tập rubik

Cách đây rất nhiều năm mình đã từng ngồi xoay rubik, nhưng không chủ tâm luyện tập cho nhanh hay gì cả, chỉ làm cách nào làm chủ cục 3x3x3 để có thể giải được mấy cục dị bản khác thôi. Hiện tại thì do quá rảnh nên mình dự định sẽ luyện xoay nhanh tới một mức nào đó (đương nhiên là học càng ít công thức càng tốt).

Cục rubik hiện tại của mình mua ở trên amazon, link ở đây (đặt hàng đêm hôm trước sáng hôm sau 9h thấy đồng chí tới gõ cửa giao hàng, đúng là siêu tiện lợi). Lúc đầu mua cục ở cửa hàng 100y về xoay được vài (chục) lần thì đau cả tay, ngoài việc rít thì nó không vuốt cạnh và góc nên đẩy 2 ngón là bị cọ ngay, thậm chí có lúc không thể xoay 1 lần được mà phải xoay 3 lần theo chiều ngược lại… Mình có tìm hiểu qua trên mạng thì mấy người đang giữ kỷ lục thế giới đều dùng cục của MoYu (thấy có link bán trên amazon ở đây) nhưng không vận chuyển đến Nhật nên không đặt được. Cục Newisland này thấy được đánh giá cũng tốt (có thể xem thêm video mở hộp cục này của một bạn trên youtube ở đây). Giá cả thì cũng không mắc lắm, mà thấy ghi đều đã được bôi trơn (lubed) nên cũng tương đối ổn.

Từ điển tiếng Trung – Websites và Apps

Website Từ điển tiếng Trung

Mình sử dụng tương đối nhiều website từ điển tiếng Trung cùng lúc để tra từ, vì thông tin nhận được khác nhau phục vụ cho các mục đích khác nhau. Để phục vụ cho việc so sánh trong bài viết này mình sẽ tra tất cả các từ điển với cùng một từ 梦想.

(1) Vietgle

http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-trung/tu-dien/lac-viet/V-T/-all.html

Trang này có cả từ điển Trung-Việt Việt-Trung và Trung-Anh Anh-Việt nên là địa chỉ mình hay truy cập nhất. Mấy từ điển Trung-Việt khác trên mạng đều sử dụng cùng nguồn từ vựng với trang này, nhưng cách trình bày bố cục kết quả không rõ ràng (lỗi phông…) nên mình không sử dụng.

Kết quả trả về rất rõ ràng, có âm pin-yin, biểu tượng loa để nghe phát âm, nghĩa và vài ví dụ.

(2) Hán Việt từ điển

http://hvdic.thivien.net/

Tra từ điển này ra cả âm Hán Việt của từ nên dễ hình dung phần nào nghĩa và nhớ cách đọc hơn, có thể tra âm Hán-Việt hoặc pin-yin.

Tra âm Hán Việt
Tra pin-yin

(3) Line Dict

http://ce.linedict.com/dict.html

Từ điển Trung-Anh Anh-Trung này tiền thân là Nciku, bị LINE mua lại rồi làm thành Line Dict thì phải, mình đã dùng nó từ rất lâu rất lâu rồi… từ hồi không học tiếng Trung mà thi thoảng chỉ tra cho biết cho vui thôi. Điểm đặc biệt nhất của từ điển này là có thể tra từ dựa trên việc vẽ chữ (nhiều trang web khác cũng có chức năng này nhưng nhận diện chữ ở đây đúng nhất, viết sai thứ tự nét hay nét nguệch ngoạc cũng vẫn nhận được). Ngoài ra còn có thể xem luôn mức kỳ thi HSK mà từ này sẽ xuất hiện, thứ tự nét, nghĩa, ví dụ (kèm âm thanh).

(4) Google Dịch

Dịch tự động, kết quả trả về rất nhanh nhưng thường… hơi kì, chỉ nên sử dụng khi tra từ chuyên ngành, hoặc muốn hiểu đại ý của một đoạn văn dài.

Ứng dụng trên điện thoại

(1) Từ điển Trung Việt

Android|iOS

Mình đã thử rất nhiều ứng dụng trên appstore, kết quả đây là ứng dụng tra Trung-Việt Việt-Trung tốt nhất mà mình đã thấy :). Kết quả hiển thị rõ ràng, đẹp, có thể sử dụng offline, có kèm phát âm, nối với google dịch, có thể xem lại lịch sử,… Tổng hợp lại thì hầu như tất cả các yêu cầu mà mình cần thì ứng dụng này đều đáp ứng được.

(2) Pleco

Android|iOS

Đây là ứng dụng tra Trung-Anh Anh-Trung đầu tiên và cũng là duy nhất mà mình sử dụng, vì độ tiện dụng của nó đánh bại tất cả các ứng dụng tương tự khác :). Chức năng của ứng dụng này chắc viết cả một bài cũng không hết, nhưng đúng là cần gì, Pleco đều có ~ Màu sắc của chữ Hán dựa trên thanh âm của chữ đó: thanh 1 (đỏ), thanh 2 (xanh lá), thanh 3 (xanh dương), thanh 4 (tím), thanh nhẹ (xám).

Kết quả bao gồm từ, pinyin, nghĩa và ví dụ câu, các câu đều có kèm file nghe. Ví dụ như từ 梦想 có hai chữ Hán thì có thể bấm vào mỗi chữ để liệt kê các từ khác cũng có chữ Hán đó, rất tiện lợi.

(3) Google Dịch

Android|iOS

Chức năng của ứng dụng Google Dịch thì cũng tương tự như khi sử dụng trên máy tính, nhưng đối với điện thoại thì việc có thể dịch dựa trên nhận diện chữ viết trong hình ảnh là tiện nhất. Các ứng dụng khác đều yêu cầu “vẽ” lại chữ, nhưng Google Trans có thể dịch từ ảnh, và gần như là hoàn toàn đúng (như hình dưới là nhận diện tiếng Nhật, nhưng tiếng Trung cũng tương tự).

//Ngoài ra cũng còn tương đối nhiều website/ứng dụng khác mà mình đã từng thử qua, nhưng đây là các website/ứng dụng mà mình hay sử dụng nhất ;).

Từ điển tiếng Nhật – Websites và Apps

Website Từ điển tiếng Nhật

Mình sử dụng tương đối nhiều website từ điển tiếng Nhật cùng lúc để tra từ, vì thông tin nhận được khác nhau phục vụ cho các mục đích khác nhau. Để phục vụ cho việc so sánh trong bài viết này mình sẽ tra tất cả các từ điển với cùng một từ 工場.

(1) Tratu của Soha

http://tratu.soha.vn/

Đây là một từ điển tương đối lớn, hầu như những từ đơn mình tra đều có, cách trình bày rõ ràng, có câu ví dụ và dịch nghĩa câu ví dụ. Ngoài từ điển Việt-Nhật Nhật-Việt còn có cả từ điển Nhật-Anh, Anh-Nhật. Điểm mạnh của từ điển này là các từ vựng chuyên ngành rất nhiều, có các cụm từ vựng hay sử dụng được phân loại rõ ràng.

Từ điển này phân rõ theo từ loại, theo cách đọc bằng màu đỏ, nghĩa màu đen, lĩnh vực màu xanh, từ chuyên ngành sẽ được tách riêng theo từng mục ở dưới.

(2) Mazii Dictionary

http://mazii.net/

Từ điển này cho phép tra Việt-Nhật (100.000 từ), Nhật-Việt (250.000 từ), Hán tự và cả ngữ pháp, mẫu câu. Điểm mạnh của từ điển này là trong khung tìm kiếm từ có thể gõ tiếng Nhật, tiếng Việt hoặc romaji đều có thể trả về kết quả từ cần tìm kiếm. Ngoài ra, bạn có thể nghe cách phát âm của từ, hay tham khảo các từ vựng liên quan tới từ mà bạn vừa tra, tuy nhiên đối với các từ vựng mở rộng thường chỉ có tiếng Anh chứ không có tiếng Việt. Nếu từ/cụm từ bạn tra không có trong từ điển, mazii sẽ tự động trả về kết quả dịch tự động.

Đây là một phần kết quả trả về khi tra từ, phía dưới là một vài từ liên quan khác, ví dụ như 染色工場,…

(3) Hán Việt từ điển

http://hvdic.thivien.net/

Tra từ điển này nhiều khi không ra nghĩa/nghĩa tiếng Trung nhưng cho cách đọc Hán Việt của từ nên dễ hình dung phần nào nghĩa và nhớ cách đọc hơn.

(4) Alc

http://www.alc.co.jp/

Đây là từ điển Anh-Nhật, Nhật-Anh. Từ điển này rất tiện dụng khi muốn tìm kiếm các cụm từ chuyên ngành bằng tiếng Anh hay tiếng Nhật, hay tìm ví dụ sử dụng trong câu.

Tìm kiếm trả về 1034 kết quả, không chỉ từ mà còn cả các cụm từ hoặc câu nên rất tiện dụng khi muốn tìm cách sử dụng từ.

(5) Weblio

http://ejje.weblio.jp/

Đây là từ điển rộng và có thể coi là đầy đủ nhất, nhưng ngược lại vì lượng thông tin quá nhiều nên cũng khó lựa chọn. Bản thân mình rất ít khi dùng từ điển này, trừ khi muốn tìm hiểu rõ hơn về một cụm từ thôi.

null

(6) Google Dịch

Dịch tự động, kết quả trả về rất nhanh nhưng thường… hơi kì, chỉ nên sử dụng khi tra từ chuyên ngành, hoặc muốn hiểu đại ý của một đoạn văn dài.

Ứng dụng trên điện thoại

(1) Jdict

Android|iOS

Ứng dụng từ điển Việt-Nhật, Nhật-Việt gọn nhẹ, nhiều từ và có thể coi là tốt nhất mà mình thấy trên appstore. Kết quả trả về là từ, cách đọc, cách phát âm, cụm từ ví dụ và giải thích, âm Hán-Việt. Từ đã tra cứu cũng có thể được lưu trữ để xem lại sau.

(2) Mazii

Android|iOS

Đây là ứng dụng phát triển từ mazii.net nên phần nghĩa và chức năng gần tương tự như website mình đã nhắc đến ở trên.

(3) imiwa?

iOS

Với ứng dụng này có thể cùng lúc tra được rất nhiều thứ tiếng cùng với các câu ví dụ kèm cách đọc (file âm thanh). Hạn chế duy nhất là dung lượng của từ điển offline quá nặng T.T.

(4) Google Dịch

Android|iOS

Chức năng của ứng dụng Google Dịch thì cũng tương tự như khi sử dụng trên máy tính, nhưng đối với điện thoại thì việc có thể dịch dựa trên nhận diện chữ viết trong hình ảnh là tiện nhất. Các ứng dụng khác đều yêu cầu “vẽ” lại chữ, nhưng Google Trans có thể dịch từ ảnh, và gần như là hoàn toàn đúng (như hình dưới).

 Ngoài ra cũng còn tương đối nhiều website/ứng dụng khác mà mình đã từng thử qua, nhưng đây là các website/ứng dụng mà mình hay sử dụng nhất ;).

Website học ngoại ngữ: Luyện viết với lang-8

Lang-8

Lang-8 là một trang web theo dạng mạng xã hội giúp người tham gia luyện viết thông qua việc giúp đỡ nhau chỉnh sửa bài viết. Cụ thể hơn là, bạn có thể đăng bài bằng ngôn ngữ bạn đang học và sẽ được những người bản xứ hoặc những người cũng đang theo học ngôn ngữ đó chỉnh sửa giúp, ngược lại bạn cũng có thể giúp những người đang học các ngôn ngữ mà bạn biết chỉnh sửa câu văn của họ. Việc làm hai chiều này không chỉ là một hình thức “cho và nhận”, mà bản thân mình khi giúp người khác sửa tiếng Việt cũng giúp mình nhận ra người nước ngoài kể cả có học ngữ pháp từ vựng bao nhiêu đi chăng nữa, cho dù viết đúng ngữ pháp đúng chính tả nhưng đọc vẫn hoàn toàn nhận ra không phải người bản xứ viết, và dở nhất là nhiều khi ý muốn truyền đạt lại bị hiểu sai.

Người sáng lập ra trang web là Hỷ Dương Dương (喜洋洋), với mong muốn thành lập mạng xã hội trao đổi về ngôn ngữ từ  khi còn đang học ở Đại học Kyoto và du học ở Thượng Hải, Trung Quốc. Trang web được xây dựng đưa vào sử dụng từ năm 2007, với ý tưởng đầu tiên nảy ra khi anh học tiếng Trung (Hỷ Dương Dương sinh ra ở Trung Quốc và lớn lên ở Nhật Bản) cùng với một người bạn Trung Quốc đang học tiếng Nhật, hai người viết và trao đổi với nhau để sửa chữa. Trang web hiện nay được quản lý bởi Lang-8 Inc, với CEO Hỷ Dương Dương, đặt trụ sở tại Tokyo, Nhật Bản.

L-point

Ví dụ đây là thông tin tài khoản của mình, chỉ được lựa chọn 2 ngôn ngữ học nên mình chọn tiếng Nhật và tiếng Trung.

Trên cơ sở khuyến khích “cho và nhận”, lang-8 sử dụng hệ thống điểm “L-point”, đơn giản là bạn giúp đỡ người khác nhiều thì bạn sẽ nhận được giúp đỡ nhiều hơn, để đảm bảo người tham gia không chỉ nhận được sự giúp đỡ từ mọi người ở đây, mà bản thân mỗi người đều đóng góp phần mình trong việc giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ trong việc học ngoại ngữ. “L-point” có thể kiếm được khi chỉnh sửa bài viết của người khác, được nhận lời cảm ơn (thank points) và được những người khác cùng chỉnh sửa bài viết đó đánh giá là tốt (native nods).
Xếp hạng theo điểm “L-point” dựa trên điểm nhận được trong vòng 3 ngày gần nhất, vậy nên càng giúp đỡ người khác nhiều, bản chỉnh sửa của bạn càng chính xác (sẽ được nhận nhiều đánh giá tốt từ người dùng khác) thì sẽ được nhận điểm “L-point” cao hơn. Khi nhận được điểm “L-point” cũng như thứ hạng cao, bài viết của bạn sẽ có khả năng được đưa lên thứ tự ưu tiên hơn, có cơ hội được nhiều người đọc và sửa chữa cho hơn. Bạn có thể xem điểm “L-point” của mình ngay tại trang thông tin cá nhân chính (xem hình), điểm L của mình là 15440, xếp hạng theo 3 ngày gần nhất là thứ 18 trong số những người học tiếng Trung và thứ 60 trong số những người học tiếng Nhật. Ở dưới thì có 3 biểu tượng lần lượt là số bài viết mình đã chữa (46), số lời cảm ơn được nhận (34) và số lượt đồng tình với chỉnh sửa của mình từ những người dùng khác (124).

Premium – Tài khoản trả phí

Hiện tại mình đang sử dụng tài khoản miễn phí, nhưng tài khoản trả phí cũng kèm theo rất nhiều ưu đãi hấp dẫn. Ưu tiên quan trọng nhất là các bài viết từ tài khoản trả phí sẽ được đưa lên trang đầu, ghim thứ tự ưu tiên trong một khoảng thời gian nhất định nên chắc chắn sẽ nhận dược nhiều đánh giá chỉnh sửa hơn. Tính năng quan trọng tiếp theo (làm mình cay cú rất nhiều lần và chắc sớm muộn cũng sẽ trả phí vì chức năng này thôi) là không hạn chế số lượng ngôn ngữ học (tài khoản miễn phí bị hạn chế là 2 ngôn ngữ). Ngoài ra người dùng trả phí cũng có thể chèn hình ảnh vào trong bài viết, tải bài viết cùng với các chỉnh sửa dưới dạng PDF, ẩn quảng cáo, tìm kiếm chuyên sâu hơn và chỉnh sửa hình nền.

Lợi thế và hạn chế của việc sử dụng Lang-8

Lợi thế lớn nhất của việc sử dụng Lang-8 là có thể nhận được nhận xét (miễn phí) từ những người bản xứ, và luôn luôn có những người rất tích cực sửa chữa tỉ mẩn cụ thể và giải đáp tất cả những thắc mắc mà người học có thể nghĩ ra khi học ngoại ngữ. Hiện tại thì trang web thống kê lượt người sử dụng tới 750,000 người dùng từ 190 quốc gia khác nhau và sử dụng 90 ngôn ngữ, nên đây chắc hẳn là một nguồn tài nguyên hữu ích nếu biết cách khai thác hợp lý.

Tuy nhiên, Lang-8 có rất nhiều mặt hạn chế mà mình phải xác định trước khi tham gia để tìm ra cách sử dụng công cụ này một cách hiệu quả nhất. Cũng như rất nhiều mạng xã hội khác, số lượng người dùng tiếng Trung và tiếng Nhật, cũng như số người học tiếng Anh đông một cách áp đảo (!!). Điều này rất tốt khi bạn học tiếng Trung và tiếng Nhật, ngoài ra biết tiếng Anh (có thể nhận được sửa chữa từ người nói tiếng Trung, người Nhật, ngoài ra có thể tăng điểm L-point bằng việc sửa chữa các bài viết tiếng Anh). Ngược lại, điều này sẽ thành hạn chế nếu bạn học các ngôn ngữ khác, tuy chỉ là hạn chế chứ không phải hoàn toàn khó khăn, nhưng cũng nên lưu ý về điểm này.

Ngoài ra, do tính chất miễn phí, chia sẻ dựa trên nguyên tắc “cho và nhận”, nên thường các bài viết ở đây rất ngắn, và đa phần chỉ là nhật ký, dưới 10 câu. Mình đã từng thấy có những bạn đăng bài viết IELTS lên đây, nhưng thường sẽ không được sửa chữa, hoặc sửa chữa rồi thì khi mình nhìn qua thấy cũng không hợp lý lắm. Bản thân các dạng bài viết tranh luận như ở IELTS, SAT hay GRE đều đòi hỏi người học phải có lượng kiến thức nhất định về dạng bài này, kể cả người bản xứ nhiều khi cũng không rõ cấu trúc cũng như các tiêu chí của bài viết nên cũng khó đánh giá hợp lý cách viết được. Theo ý kiến của mình, Lang-8 chỉ nên sử dụng khi muốn kiểm tra về chính tả, lỗi ngữ pháp cơ bản, hoặc muốn sử dụng ngôn ngữ giống với người bản xứ nhất trong các văn cảnh thường ngày mà thôi.

Đăng ký và cách sử dụng

lang-8
Lang-8 có liên kết với twitter và facebook nên có thể đăng ký thông qua tài khoản ở 2 mạng xã hội này.
lang-8
Sử dụng nút “Post” để đăng bài viết mới, nút “Correct” để hiển thị các bài đăng mà mình có thể sửa chữa. Ngoài ra có thể xem thêm các chức năng ở phần “More”: tìm kiếm thành viên khác, xem các bài viết gần nhất/phổ biến, xếp hạng thành viên hoặc thông tin các nhóm.
lang-8
Giao diện đăng bài: Lựa chọn ngôn ngữ viết ở “Help me with my” (chú ý phần này rất quan trọng để thông báo đúng tới người có thể sửa chữa ngôn ngữ bạn cần. Có thể thêm tiêu đề ở phần “Click to enter a title” và bắt đầu viết trong khung “Text”. Ở khung phía dưới có thể thêm dịch nghĩa phần đã viết sang tiếng mẹ đẻ để người sửa bài có thể hiểu được ý đồ của toàn bài viết. Lựa chọn chia sẻ bao gồm chỉ với người dùng lang-8, toàn bộ, chia sẻ qua twitter và facebook. Sau khi hoàn tất, lựa chọn “Publish” để đăng bài.
lang-8
Giao diện sửa bài: Lựa chọn “Correct” và gõ phần nội dung chính xác vào khung hiển thị, nếu câu văn không cần phải sửa thì chọn “Perfect”. Sau khi hoàn tất sửa chữa thì chọn “Post corrections” để đăng bài. Các phần hiển thị ở trên là

Ngoài việc sửa chữa bài theo từng câu, người dùng cũng có thể đăng các nhận xét, trao đổi để giải thích sâu hơn về phần bài viết của những người dùng khác. Lang-8 cũng cung cấp hệ thống “nhóm” hỗ trợ chia sẻ thông tin trong mạng lưới lớn hơn.

Mình mới sử dụng ứng dụng này chưa lâu, nhưng với hai ngôn ngữ mà mình học ở đây thì đều nhận được nhận xét và sửa chữa trong vòng vài giờ đồng hồ nên tương đối tiện dụng, có điều hơi lười không viết thôi… Hi vọng có thể nhờ website này mà tập được thói quen viết tốt hơn. Nếu không nghĩ ra đề tài gì để viết thì có thể tham khảo ở đâyđây. Hai trang này đưa ra 400 chủ đề để viết về tất cả các vấn đề trong cuộc sống, từ đơn giản đến phức tạp, đòi hỏi các kĩ năng khác nhau từ miêu tả, so sánh tới nghị luận nên viết hết chắc chắn là sẽ rất tốt rồi :).

Good luck ;).